01.08.2009

BODY ART QUÁ SEXY, LỆCH LẠC Ở ĐIỂM NÀO? (*)

Từ ngày 23 đến 26/7 vừa qua, tại Lễ hội đền Lảnh Giang (thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam), một lần nữa, Body Art lại được “nhắc nhớ” qua hình tượng của 20 thanh niên “sắm vai” hộ pháp giữ đền. Đến với lễ hội, tuy có nhiều ý kiến trái chiều nhau từ giới quan sát, nhưng có một thực tế “nhắc nhớ” với người xem rằng Body Art vẫn đang là hình thức nghệ thuật có tính hấp dẫn được số đông công chúng trẻ tuổi. Trong khoảng 5 năm qua, đã có khá đông nghệ sĩ thực hành và báo chí cũng đã ít nhiều đề cập đến. Tuy nhiên, cũng có không ít ý kiến e ngại cho rằng đây chỉ là một cung cách lệch lạc… Nhằm có thêm một ý kiến từ giới chuyên môn, với hi vọng có thể cung cấp thêm một cách nhìn cho độc giả, TT&VH có một trao đổi với nhà phê bình mỹ thuật Nguyên Hưng, về Body Art.

364_Dieter-Kaefer.jpg


* Xin hỏi ngay, ở tư cách nhà phê bình mỹ thuật, anh có ý kiến như thế nào về hiện tượng này?

- Body Art, có thể hiểu đơn giản là thứ nghệ thuật lấy bản thân cơ thể con người làm phương tiện hay chất liệu biểu hiện. Truy tìm gốc gác là chuyện vô cùng, nhưng xét như một khuynh hướng nghệ thuật, nó ra đời ở Mỹ từ những năm 1960 của thế kỷ 20 và nhanh chóng phát triển ra khắp nơi, gắn liền với phong trào hippy, phong trào nữ quyền, phong trào đồng tính v.v… Nói chung, là những phong trào giải phóng cá nhân ra khỏi các định kiến xã hội…

Ở nhiều nơi trên thế giới, trong giai đoạn đầu tiếp nhận, bởi những thứ “gắn liền” mà tôi nhấn mạnh ở trên, nhiều người cũng ái ngại trước hình thức nghệ thuật này. Nó thách thức những giá trị được cho là truyền thống. Đến nay, hầu như mọi chuyện đã trở thành (quá) bình thường. Hay hoặc dở, không còn vì nó là Body Art nữa, mà tùy vào ý tưởng và hình thức thể hiện…

Photo_Daniel-Janesch_035.JPG

* Cụ thể là ở Lễ hội Lảnh Giang, khi kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật đương đại với khung cảnh cổ truyền, trong đó có cả chuyện “vẽ mình”. Anh đánh giá sao về chuyện vẽ mình này?

Không có ấn tượng gì nhiều. Chỉ như những hoạt cảnh minh họa.

* Body Art có quan hệ như thế nào với nghệ thuật xăm mình (Tattoo), với nghệ thuật vẽ lên mình (Body Painting)? Nhiều người cho xăm mình, vẽ lên mình là những hình thức thể hiện chủ yếu của Body Art. Đã vậy thì, thứ nhất, lịch sử Body Art phải xa xôi hơn chứ? Thứ hai, bởi người Việt xưa vốn có văn hóa xăm mình, nên Body Art đâu phải là cái gì quá xa lạ với truyền thống văn hóa Việt Nam?

- Xăm mình, vẽ lên mình có lâu lắm rồi, và được xem là những tập tục. Xăm mình gắn liền với văn minh sông nước. Vẽ lên mình gắn liền với văn hóa “thổ dân”. Đại thể, đó là những thuật ngụy trang - trong trạng thái đứt gãy về mặt tư duy - nhằm thích nghi với môi trường sống nhiều ưu đãi nhưng cũng lắm thách thức của người xưa. Với người sống ở môi trường sông nước, xuống nước thì mới có cái ăn, nhưng xuống nước là đụng độ với thuồng luồng, cá sấu và bao nhiêu loài thủy quái hung ác khác - những thế lực vượt quá sức chống đỡ… Thua, nên phải “thần phục”, phải “tôn thờ”, phải tự biến mình trở thành “thần dân”. Xăm mình như một phép hóa thân - tự đồng hóa - là sự khôn ngoan hèn yếu của con người trong nỗ lực thích nghi để tồn tại… Trong cái nhìn chính trị hóa, nó được điển chế hóa thành tập tục. Xăm mình trở thành những chỉ hiệu tượng trưng - để đánh dấu sự trưởng thành, để các thành viên trong từng cộng đồng nhận diện ra nhau, và phân biệt với những cộng đồng khác… Các băng đảng về sau sử dụng xăm mình, chủ yếu ở khía cạnh điển chế hóa này. Xăm mình trở thành một cam kết, một trói buộc.


Với vẽ lên mình cũng vậy. Nói chung, từ mục đích đến ý nghĩa, cả xăm mình lẫn vẽ lên mình xưa chẳng dính líu gì đến nghệ thuật. Ngay cả khi nó gắn liền với phong trào hippy, phong trào nữ quyền v.v…, thì về đại thể, vẫn không khác. Khác, chỉ ở sự đảo ngược mục đích, ý nghĩa. Trước, đó là một cam kết hòa nhập, giờ, đó là một tuyên bố ly khai; trước, đó là một dấu hiệu tập thể, giờ, đó là một khẳng định cá nhân v.v… Xăm mình, vẽ lên mình chỉ được xem là hình thức nghệ thuật, nhập vào trào lưu Body Art, khi nó được nhìn nhận, được thể hiện dưới cái nhìn nghệ thuật. Cái nhìn, chỉ có thể phát triển từ những năm 1960, khi mà giới nghệ sĩ đã có thể tùy ý lựa chọn phương tiện, chất liệu vượt qua mọi quy ước truyền thống, và, khi mà môi trường xã hội đã sẵn sàng một không gian dung chứa: các phong trào giải phóng cá nhân…

Ở Việt Nam, không chỉ với Body Art, mà cả với Installation, với Performance, nhiều người, vẫn cứ nhận vơ nguồn gốc về mình. Thực tế, nếu không mù mờ thì đây chỉ là trò “đánh lận con đen”. Kiểu gì cũng hết sức ‘nguy hiểm”. Nó làm lẫn lộn mọi thứ, xóa nhòa các quy ước giá trị v.v… Xăm mình trong tư duy người Việt xưa, nếu được kế thừa bây giờ, thì đã hiện hình trong các kiểu phục trang, các cách hành xử, các ý niệm về phong cách và các giải pháp PR này nọ v.v… chứ không phải là qua các hình thức xăm mình! Xăm mình, vẽ lên mình - Body Art nói chung - hiện tại, là câu chuyện khác, cần được nhìn nhận cách khác.

* Hỏi anh một ý khác, Body Art có sexy quá không? Ủng hộ Body Art liệu có mở đường cho các ứng xử lệch lạc trong xã hội?

- Body Art quá sexy ở điểm nào? Ở sự phơi bày thân thể. Coi chừng! Thứ nhất, phơi bày thân thể chưa chắc đã là sexy. Có quá nhiều ví dụ trong nghệ thuật để chứng minh điều này. Ngược lại, sexy, chưa chắc đã cần đến sự phơi bày thân thể. Trong thế giới hình ảnh chung quanh được nhìn thấy hàng ngày, ai cũng dễ dàng cảm nhận, nhiều khi, chỉ cần một ánh mắt, một bờ môi, một chút da thịt để lộ… đã rất sexy. Tóm lại, Body Art có sexy hay không là tùy vào quan điểm và cách thể hiện… Thứ hai, phải chăng sexy là xấu xa, đồi bại? Cần phải thành thật với nhau rằng, sex là một phần trong đời sống và sexy là một chất men không thể thiếu. Không có một thiết chế văn hóa nào, kể cả tôn giáo, có thể loại trừ mà chỉ có thể điều tiết. Và điều tiết, từ lâu nhân loại đã biết, bên cạnh việc tạo ra hiểu biết đầy đủ bằng giáo dục, còn cần đến sự thanh lọc của nghệ thuật. Ở Việt Nam, Body Art với các hình thức phổ biến như xăm mình, vẽ lên mình, trước khi là một hiện tượng nghệ thuật, đã là một hiện tượng xã hội. Việc ủng hộ Body Art lúc này, không phải là mở đường cho các ứng xử lệch lạc mà sẽ có tác dụng điều chỉnh… Thứ ba, nếu nhìn thẳng vào các chương trình biểu diễn Body Art ở khắp nơi, điều dễ dàng nhận thấy, là khi lấy thân xác làm phương tiện hay chất liệu biểu hiện, các nghệ sĩ đã mang lại bao nhiêu khám phá mới mẻ, độc đáo về cuộc sống và về khả năng sáng tạo của con người, xóa nhòa mọi ám ảnh hay mặc cảm về thân xác. Nếu so với các chương trình biểu diễn thời trang áo tắm, chương trình thi hoa hậu bikini…, không chừng, Body Art lại ít sexy hơn!...

450_Ken-Langelier.jpg

* Anh có ý kiến như thế nào về các thực hành Body Art ở Việt Nam lâu nay? Thời gian gần đây, cái tên Ngô Lực rất hay được nhắc đến trên một số mặt báo và một số trang mạng - được giới thiệu là người đầu tiên, hay tiên phong thực hành Body Art ở Việt Nam (!). Anh nhận xét thế nào về tác phẩm của họa sĩ này?

- Tôi không dám chắc ở Việt Nam, ai là người đầu tiên thực hành Body Art, nhưng chắc chắn không phải là Ngô Lực. Trước Ngô Lực đã có nhiều người: Đào Anh Khánh, Trương Tân…Chưa thể nói gì về tác phẩm Ngô Lực ở góc độ nghệ thuật. Nó mới là những thể nghiệm - chỉ có ý nghĩa về mặt hành vi… Việc thực hành Body Art ở Việt Nam, mạnh nhất - hiểu theo nghĩa phổ biến và thuần thục về kỹ năng - là hình thức xăm mình. Có thể bắt gặp trên phố hay nhìn thấy trên mạng rất nhiều hình ảnh xăm mình đẹp. Tuy nhiên, phần lớn, chỉ mới là bắt chước từ đâu đó, chứ rất ít sáng tạo. Chưa nói đến sự độc đáo trong sắc thái biểu hiện. Nói chung Body Art ở Việt Nam cho đến nay, căn bản, chỉ mới là một hiện tượng xã hội chứ chưa trở thành một hiện tượng nghệ thuật…


* Nghe đâu anh đang đề xuất dự án tổ chức liên hoan Body Art trong vài tháng tới. Mục tiêu và các thong điệp của anh là gì? Với thực tế thực hành Body Art ở Việt Nam như anh đã nói, liệu liên hoan này sẽ thành công, hay cũng chỉ để “bắt chước, minh họa”?

- Tôi hy vọng liên hoan sẽ là một cuộc tổng trình diễn nhằm mang lại một hình dung tương đối bao quát hơn về quan niệm và cách thực hành Body Art ở Việt Nam. Nó là một cơ hội tạo nên sự cọ xát cho sự trao đổi quan niệm cũng như các vấn đề thuộc kỹ năng thực hành. Ngoài ra, nó còn là cơ hội để chuyển tải một định hướng diễn dịch tích cực hơn đối với hình thức Body Art, tạo nền tảng ý thức cho sự nhìn lại có ý nghĩa tự điều chỉnh nơi cả giới nghệ sĩ thực hành Body Art lẫn công chúng.

Không thể nói trước, nhưng tôi tin rằng, khi có một “sân chơi” cởi mở, diện mạo Body Art Việt Nam sẽ khác…
107_Gerhard-Kozissnik.jpg

* Tôi vẫn chưa thể tưởng tượng được một liên hoan Body Art sẽ được diễn ra trong một chương trình như thế nào? Anh dự tính liên hoan này sẽ được tổ chức ở đâu?

- Tôi chỉ đưa ra ý tưởng, phác thảo nội dung chương trình. Còn việc triển khai, phải đi tìm nhà tổ chức. Tôi rất muốn làm ở Hà Nội, nhưng ở Hà Nội, quan hệ của tôi hết sức hạn chế. Trong khi đó, ở một số thành phố biển miền Trung, như Nha Trang, Đà Nẵng, tôi có nhiều quan hệ hơn. Hiện nay, có vài đối tác đề nghị tổ chức ở Nha Trang. Trước mắt, có một số điểm thuận lợi, nên tôi đang chuẩn kịch bản chương trình theo hướng tổ chức ở Nha Trang. Đối với các nhà tổ chức, nội dung chương trình sự kiện thường được xem là một bí mật, chỉ thông báo vào phút cuối, nên tạm thời, tôi chưa thể nói ra. Riêng tôi, do đã trực tiếp tổ chức nhiều sự kiện nghệ thuật đại chúng (Public Art), có khá nhiều kinh nghiệm, nên tôi tin rằng liên hoan sẽ rất hấp dẫn…!

VĂN BẢY (thực hiện)

(*) Bài đã đăng trên Thể thao & Văn hóa cuối tuần, số ra ngày 31 tháng 7-2009

27.07.2009

A.C.I.D. by Bui Anh Phong – Some notes on a debut...

Phong has regarded himself as “Teu”, a hick character from Vietnamese folklore. He feels like an idiot in the city life. In his eyes, everything is new, interesting, but also frightening. He feels himself a “navel of the universe” where everybody constantly looks at. Every move of his seems to be watched and judged by others. The gaze of others becomes his obsession. “Others”, however, are not personalities, but attitudes and, sometimes, challenges and threats. He wants to conform to others, but others are always strangers. His integration into the new life, therefore, is a constant process of self-definition — re-defining himself and others. His mindset is swinging between the complexes of a “person of attention” and an “outsider”, and he has to balance himself all the time, by his strong will, by his self-deception, by his desire to be respected and sympathized, and by his readiness to pay respect and offer sympathy to others...


Phong is not Teu, of course, but he has lived and felt like Teu. It was an experience. Perhaps his looking back upon such an experience is the reason that urges him towards working as an artist. It is an inspiration, an object of his work, a resource for ideas and topical materials... by which he explores and expresses himself. This way of creation, for him, is a process of discovering symbols and metaphors, of projecting abstract concepts, and of experimenting with his inner world — experiments imbued with poetical and philosophical nuances.
5680_1054850026599_1686292870_115249_8141900_n.jpg
“Entering”

The main objects in Phong’s new painting series are human faces, crossroads and traffic signs, so to speak, but of all his works only the “Marked portrait of a kid” clearly shows a perceivable face — seemingly with a peculiar sense of compassion — while all the rest display simple figures intermingling with and cutting into each other. Changes in pictorial arrangements and differences in formal combinations as shown in multi-level contrasts of visual elements (color masses, surface textures, compositional arrangements, hues...) create multi-faceted semantic structures and expressive nuances in his work. Phong demonstrates his mastery of using the exclusive language of strokes and colors (independent of visual objects). It is all about human faces, but they are presented in various fashions: in “Entering”, the human face is like an illusory silhouette, a vague shadow on harsh red paint lines; but in “Flying balloon”, the human face is like a sphere inflated with zealousness, frustration and solitude. The red line across it looks so strange, appearing as a challenge — transforming the deep blue space behind it into something so mysterious and infinite... “My daughter, the blue face mask and the young leaf drifting on the streets” is one of the most noticeable paintings in this series. Its title might evoke emotions associated with a certain peaceful and poetical image, but what appears on the canvas only suggests feelings of somber, anxiety... This contra-effect is not a failure. It makes such feelings become a deep impact...
5680_1054850226604_1686292870_115250_8205011_n.jpg
“Flying balloon”

Between the “Teuesque” feelings and Phong’s paintings there is a metamorphosis of experiences. It is an insightfulness. It is also a source that emits energy, genuineness, as well as consistency in Phong’s painting style. Perhaps, only with a transparent mind and a true love for art that Phong could make such a debut.

By Nguyen Hung
5680_1054850506611_1686292870_115252_5611553_n.jpg
“My daughter, the blue face mask and the young leaf drifting on the streets”

Xem lọat tranh A.C.I.D của Bùi Anh Phong: Vài ghi chú về một sự khởi đầu…

Nguyên Hưng

Phong tự ví mình là chú Tễu. Lơ ngơ giữa chốn thị thành. Thấy gì cũng mới lạ, cũng hấp dẫn. Nhưng, thấy gì cũng sợ. Tưởng mình là “trung tâm của thế giới”, ai cũng xét nét nhìn mình. Cái-nhìn-người-khác trở thành một ám ảnh. Và, người khác, không phải là những cá tính, mà là những thái độ. Nhiều khi là những thách thức, đe dọa. Chú muốn giống người khác, nhưng người khác, vẫn luôn là người lạ. Sự hòa nhập của chú vào cuộc sống mới, bởi vậy, là một quá trình tự định nghĩa không ngừng. Về mình, và về người khác. Tâm thế chú giao động giữa mặc cảm “người-ở-trung-tâm” với “người-ở-bên-lề”, và, luôn luôn phải tự hòa giải. Bằng ý chí vươn lên. Bằng những phép “thắng lợi tinh thần”. Bằng mong ước được tôn trọng, cảm thông và sẳn sàng ban phát sự tôn trọng,cảm thông v.v… và v.v…

Phong không phải là chú Tễu. Nhưng cái tình cảnh Tễu, cái tâm thế Tễu thì đã từng có trong Phong. Đó là một kinh nghiệm. Sự nhìn lại, có lẽ là nguyên cớ dẫn Phong quay về với công việc của một họa sĩ. Nó là nguồn cảm hứng, là đối tượng, là nguồn tài nguyên, là chất liệu… để Phong khám phá, biểu hiện. Sáng tác trong chiều hướng này, với Phong, trở thành quá trình nắm bắt những tượng trưng và ẩn dụ, quá trình trừu xuất ý tượng từ những trãi nghiệm nội quan-những trãi nghiệm mang đậm màu sắc thi ca và triết học…

Đối tượng chính trong loạt tranh mới này của Phong là những gương mặt người, những giao lộ và biển báo giao thông. Gọi tên là vậy, nhưng tất cả, chỉ mỗi tác phẩm “Chân dung em bé được đánh dấu” là rõ mặt người-dường như ở đây có một sự thương cảm đặc biệt nào đó-còn lại, đều chỉ là những hình hiệu đơn giản, tồn tại đan xen vào nhau, chia cắt lẫn nhau. Sự biến đổi cấu tạo hình diện và sự khác biệt của các hình thức đan xen, chia cắt, thể hiện trong sự tương phản nhiều cấp độ của các yếu tố tạo hình-từ mảng hình, kết cấu bề mặt vật liệu, đến bố cục, màu sắc…-đã tạo cho tác phẩm của Phong có cấu trúc tạo nghĩa và sắc thái biểu cảm hết sức đa dạng. Phong tỏ ra thuần thục trong việc sử dụng ngôn ngữ tự trị của hình và màu (không phụ thuộc thế giới đối tượng). Cũng là hình hiệu mặt người, nhưng ở “Bước vào”, chỉ như một bóng đổ mờ nhạt, hư ảo trên những vạch đường sơn đỏ nghiệt ngã… Trong “Bong bóng bay lên”, hình hiệu mặt người kia, lại như một-khối-nhiệt-tâm đầy ẩn ức và đơn độc. Cái vạch đỏ chạy ngang ở trên thật kỳ lạ. Nó hiện diện như một thách đố-biến không gian xanh thẳm phía sau trở thành cái gì hết sức xa xôi, bí ẩn… “Con gái tôi, khẩu trang xanh,lá non cùng trôi trên phố” là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất trong lọat tranh này. Cái tên,có thể gợi liên tưởng về một hình ảnh bình yên, thơ mộng nào đó. Nhưng, những gì hiện diện trên mặt tranh chỉ gợi nên những cảm xúc âm u, âu lo… Sự trái ngược này không phải là một thất bại. Nó khiến cho cái cảm xúc âm u,âu lo kia trở thành một chấn động…

Từ cảm nhận Tễu đến tác phẩm hội họa của Phong là một quá trình chuyển hóa của các trãi nghiệm. Nó mang tính nội tại. Và, đó là nguồn cơn tạo ra năng lượng, tính chân thực, cũng như sự thống nhất trong phong cách hội họa của Phong. Có lẽ, phải thật hồn nhiên trong tư duy và thực sự yêu nghệ thuật, Phong mới có thể có được khởi đầu như vậy.

Phong sinh năm 1976. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội năm 2000. Sau khi ra trường, Phong một mình vào TP Hồ Chí Minh, và cả thời gian dài sinh sống bằng các họat động trong ngành quảng cáo. Phong mới gác hết mọi chuyện, tập trung cho việc vẽ trong vòng một năm trở lại đây.

Về phần mình, tôi mới biết Phong chưa đầy hai tháng. Nhưng chỉ qua vài lần trò chuyện, xem qua lọat tranh mới của Phong, tôi đã cảm thấy đặc biệt yêu thích. Tôi yêu thích cái hành động dám từ bỏ mà chung thủy với hội họa trong thời gian dài đi làm quảng cáo của Phong trước đây. Và,yêu thích cái tính cách điềm tỉnh mà bạo liệt của Phong trong hành động sáng tạo nghệ thuật hiện tại. Với tôi, như vậy là đủ…!

 



18.06.2009

Về cuộc tranh luận nghệ thuật giữa Như Huy-Trần Hải Minh

Vài bạn họa sĩ, thỉnh thoảng, vẫn hỏi về cuộc tranh luận quanh chuyện "nghệ thuật hiện đại" với "nghệ thuật hậu hiện đại" giữa Như Huy và Trần Hải Minh trên Tiền Vệ cách đây mấy năm. Để cho tiện, tôi post toàn bộ các bài viết này lên đây để các bạn tham khảo.

NH

Tran Hai Minh-Nhu Huy.doc

 

06.06.2009

Sao vội thế hả anh Võ Đình?

Nguyễn Hưng Quốc

 

Nhận được tin nhà văn kiêm hoạ sĩ Võ Đình từ trần, tôi không ngạc nhiên nhưng vẫn buồn. Không ngạc nhiên vì cách đây mấy tháng, đọc một bài viết của Trần Thị Lai Hồng, vợ ông, trên Gió-O,[1] tôi đã biết sức khoẻ của Võ Đình suy sụp đi nhiều lắm.

Nhớ, lúc ấy, đọc xong, tôi bần thần thật lâu. Suốt mấy ngày liền, tôi không ngớt bị ám ảnh bởi hình ảnh một Võ Đình nằm trong viện dưỡng lão, giữa bao nhiêu người già yếu và bệnh hoạn thuộc đủ mọi sắc tộc. Buồn.

Trong văn giới Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt, thuộc thế hệ trưởng thành và cầm bút trước năm 1975, tôi đánh giá cao Võ Đình. Tôi xem ông là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Xin nói ngay: trong lãnh vực này, không có một người tiêu biểu nhất. Kinh nghiệm lưu vong, dù trong lãnh vực văn học nghệ thuật, phong phú và đa dạng đến độ không có bất cứ một người nào, dù tài hoa đến mấy, có thể được xem là tiêu biểu nhất. Bóng mỗi người, may lắm, chỉ trùm lấp được một góc. Chỉ khác nhau ở phạm vi: rộng hay hẹp. Và ở cái tầm: cao hay thấp. Thế thôi. Võ Đình cũng thế. Ông chỉ có thể được xem là đại biểu cho lớp người cầm bút định cư ở nước ngoài trước năm 1975, những người tuy sống ở ngoại quốc thật lâu nhưng vẫn giữ được một cốt cách rất ư Việt Nam.

Việt Nam, trước hết, ở phương diện ngôn ngữ.

Nhiều người thường nói, và bản thân tôi cũng từng tin, nếu không từng viết hẳn ra, đâu đó, là: một trong những nguy cơ lớn nhất mà giới cầm bút lưu vong phải thường trực đối diện là thuộc phạm vi ngôn ngữ. Vốn liếng từ vựng của người ta không những không được cập nhật mà còn bị rơi rụng và hao hụt dần đi theo thời gian. Đó là chưa kể nguy cơ pha tạp, do sự tác động mạnh mẽ của ngôn ngữ chính mạch trong xã hội họ đang sống. Tất cả những nguy cơ ấy dẫn đến một nguy cơ khác, nghiêm trọng hơn: người ta mất hoặc giảm dần cảm giác về ngôn ngữ. Từ vựng tuôn ra từ tay họ không còn sức sống hôi hổi và tươi roi rói như lúc họ còn ở trong nước. Để diễn tả kinh nghiệm ấy, nhà thơ Cao Tần dùng một chữ đắc địa: “héo”: “Tiếng Việt trong ta ngày một héo.” Về phương diện lý thuyết, những lập luận như thế có vẻ hợp lý. Quên, sau mấy chục năm xa cách, đó là chuyện bình thường. Lạc hậu, so với dòng ngôn ngữ không ngừng thay đổi và sinh sôi nảy nở, cũng là một chuyện bình thường nữa. Chẳng có gì đáng phải nghi ngờ cả. Thế nhưng, nếu tất cả những hiện tượng vừa kể là phổ biến thì có lẽ chúng cũng không phải là tất yếu. Nhìn vào thực tế văn học Việt Nam ở hải ngoại, chúng ta không gặp mấy khó khăn khi tìm ra những ngoại lệ, những người xa Việt Nam đã lâu, lâu lắm, mà vẫn viết tiếng Việt hay, hơn nữa, có thể nói, thật hay. Không những hay mà còn mới. Và trẻ. Lúc nào cũng phơi phới. Kể ra thì khá nhiều, nhưng hiện ra trong óc tôi, trước hết, một số tên tuổi chính: rời Việt Nam từ 1975, tức ba mươi mấy năm rồi, có hai cây bút có văn phong cực kỳ sinh động: Võ Phiến và Đỗ Kh.; rời Việt Nam trước đó nữa, có hai cây bút viết phê bình và tuỳ bút có văn phong tài hoa và độc đáo: Phạm Công Thiện và Đặng Tiến; còn trước đó nữa, rời Việt Nam tận những năm đầu tiên của thập niên 1950 thì có... Võ Đình.

Trong bài “Viết văn bằng tiếng Việt” đăng trên tạp chí Việt số 2 ra vào giữa năm 1998, Võ Đình tự nhận ông “thuộc vào lớp người gốc Việt sống lâu năm nhất ở hải ngoại” (tr. 46). Mà đúng. Khi lớp người Việt tị nạn đầu tiên đặt những bước chân đầy bỡ ngỡ lên các mảnh đất Mỹ châu, Âu châu và Úc châu vào giữa năm 1975 thì Võ Đình đã sống ở đó đúng một phần tư thế kỷ. Mà không phải chỉ sống, ông còn hội nhập hẳn vào đời sống của Tây phương. Ông giỏi ngoại ngữ, có một số sách viết bằng tiếng Anh được xuất bản, và, với tư cách hoạ sĩ, tham gia vào nhiều cuộc triển lãm quốc tế.

Thế nhưng, Võ Đình lại rất Việt Nam. Ngoài lãnh vực ngôn ngữ, ở nhiều phương diện khác, Võ Đình cũng đều Việt Nam.

Ví dụ chuyện giao tiếp và thư từ.

Xin nói ngay, tôi không giao tiếp với Võ Đình nhiều. Ông sinh năm 1933, lớn hơn tôi 23 tuổi; rời Việt Nam sang du học ở Pháp vào năm 1950, lúc tôi chưa ra đời. Tôi chỉ gặp ông một lần duy nhất, trong một khoảng thời gian khá ngắn, vào đầu năm 1989, khi ông đến nghe tôi nói chuyện về thơ tại đại học George Mason, sau đó, dự buổi ăn tối chung với nhiều anh chị em cầm bút khác đang sống trong vùng Washington D.C., Hoa Kỳ. Thời gian nói chuyện riêng với nhau thật ít. Tôi chỉ nhớ, trong buổi ăn tối ấy, Võ Đình ngâm mấy bài thơ nói là để tặng tôi. Để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là bài “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính và bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Phải nói ngay là Võ Đình có giọng ngâm thơ điêu luyện và truyền cảm. Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhiều hơn ở ông không phải ở giọng ngâm mà là ở ánh mắt. Võ Đình có đôi mắt đẹp. Đẹp và sắc, sắc lẹm. Trong lúc ông ngâm thơ, đôi mắt ấy thỉnh thoảng lại liếc ngang, rất nhanh, quét qua một số người, dường như để thăm dò phản ứng của họ về giọng ngâm của ông. Bắt gặp ánh mắt ấy, tôi nghĩ thầm: Cẩn thận! Ông này nhạy cảm, hay tự ái và dễ hờn lắm đấy! Tiếc, tôi không có cơ hội gặp lại ông lần nào nữa để kiểm tra cái ấn tượng ban đầu ấy. Chỉ mừng thầm là dường như buổi gặp gỡ ngắn ngủi duy nhất giữa ông và tôi đã diễn ra một cách tốt đẹp. Mấy ngày sau, trong một bức thư gửi cho Võ Phiến, Võ Đình kể về tôi với những nhận xét khá ưu ái. Mấy tháng sau, nhân Hồ Trường An sang Mỹ, ông gửi tặng tôi bức tranh mộc bản “Mây Tần” vì biết tôi từng có ý định dùng hai chữ ấy để đặt tên cho con gái đầu lòng. Mười hai năm sau, vào đầu năm 2001, Võ Đình còn chịu khó xem lại cuốn băng video thu buổi nói chuyện của tôi tại đại học George Mason mà nhà văn Trương Vũ còn giữ được và cho ông mượn, rồi ông viết thư cho tôi, nói là có những chi tiết “không thể không... cảm động”. Một năm sau đó, trong bản tiểu sử tóm tắt viết dưới hình thức niên biểu gửi tôi, Võ Đình ghi sự kiện “chính” trong đời ông vào năm 1989 là “[g]ặp... Nguyễn Hưng Quốc lần đầu tại George Mason University”.[2]

Lần đầu tiên ấy cũng là lần cuối cùng. Cuối năm 2003, lúc đang ở Việt Nam, tôi nhận được điện thoại của Võ Đình báo tin ông cũng mới về đến Việt Nam. Lúc ấy tôi đang chuẩn bị ra phi trường để về lại Úc nên không thể gặp ông được. Đành hẹn một dịp khác. Cái “dịp khác” ấy không bao giờ đến nữa. Trừ phi có một thế giới nào khác. Đâu đó.

Suốt bao nhiêu năm, quan hệ giữa tôi và Võ Đình chủ yếu chỉ qua thư từ và emails. A! Chung quanh chuyện thư từ và emails cũng có lắm điều đáng nói. Võ Đình có vẻ là một người thích viết thư và đọc thư. Bức thư nào của ông gửi tôi, dù dài hay ngắn, cũng đều được viết một cách nắn nót với một chữ ký ít nét nhưng mạnh mẽ và thường khá lớn. Ông kể, ông thường giữ gìn thư từ của người khác gửi ông một cách cẩn thận, có khi cất trong các phong bì riêng. Ông không những quan tâm đến nội dung mà còn chú ý đển cả nét chữ nữa. Cho đến nay, ở hải ngoại, ông là người duy nhất có bài viết nhận xét về nét chữ của giới cầm bút Việt Nam. May mắn, tôi cũng được ông nhắc đến với một lời khen: “văn đã hay mà chữ lại tốt”, kèm theo một lời chê: đôi khi “trượt chân xuống chỗ hoa hoè”.[3]

Còn emails? Nói đến Võ Đình mà chắc đến chuyện emails, chắc không ít người quen biết ông sẽ ngạc nhiên ghê lắm. Võ Đình vốn nổi tiếng là người dị ứng với các kỹ thuật truyền thông hiện đại. Ông tự đặt cho ông hỗn danh là “Ông Lâu”, low technology, người kém về kỹ thuật.[4] Ông không thích sử dụng điện thoại. Bản thảo của ông thường được đánh máy và bỏ dấu tay. Từ đầu thế kỷ 21, chắc nghe bạn bè xúi giục, ông sắm một cái computer và nối mạng đàng hoàng. Nhưng hình như thiếu kiến thức về kỹ thuật, ông thường xuyên gặp trở ngại khi sử dụng internet. Thư từ cho tôi, ông hay than thở về chuyện ấy. Ví dụ đoạn đầu bức thư đề ngày 19.10.2002: “Trời còn mờ tối. Bắt chước bà Soa,[5] dâng hương, gióng 3 tiếng chuông. Hai tiếng đầu thật ‘ngon’, tiếng thứ 3 ngượng ngập, lạc lõng. Suy ra, có lẽ, có lẽ thôi, vì thỉnh chuông mà trí óc không được vào ‘chánh niệm’ 100%. Tối qua, vào internet, mở email ra, thấy có 2 cái messages của NHQ. Bấm, không chịu mở ra. Thì ra cái máy đã chết cứng. Lần thứ... không kể xiết.”

Trừ những lúc trục trặc như thế, bình thường Võ Đình vẫn có thể đọc được emails bạn bè gửi đến. Và thỉnh thoảng ông cũng trả lời bằng emails. Thường rất gọn. Dăm ba dòng. Hình như ông không xem những lời nhắn vội vàng và ngắn ngủi ấy là thư nên ông vẫn viết thư tay theo kiểu truyền thống. Không hiếm trường hợp, gửi emails cho ông xong, tôi phải chờ một, hai tuần để đọc phản hồi qua ngả... bưu điện. Trong bức thư gửi tôi ngày 14.3.2003, ông phân bua: “Mình chưa đến trình độ viết với máy PC (cứ lúng ta, lúng túng...) nên cứ viết tay. Kệ mình. Q. có viết cho mình thì cứ viết bằng máy!”

Tổng cộng, thời gian sử dụng emails của Võ Đình không lâu. Chỉ vài ba năm gì đó. Khoảng 2004/5 (?), ông mổ cườm mắt. Sau đó, ông không còn đọc email được nữa. Và chắc ông cũng không gửi email cho ai. Tuy nhiên, thời gian sử dụng email ngắn ngủi của Võ Đình cũng để lại một thành quả thú vị: một cuốn sách ông và tôi soạn chung.

Cuốn sách, hình thành từ sáng kiến của Võ Đình từ năm 2002, thật ra là một tập tài liệu về một nhà văn khác. Chúng tôi thoả thuận với nhau: chuẩn bị thì chuẩn bị, nhưng giữ bí mật, không nói với ai cả cho đến khi cuốn sách được xuất bản; và cuốn sách chỉ được xuất bản sau khi nhà văn ấy đã thành người thiên cổ. Nghĩa là, đó chỉ là một dự án dài hạn. Có thể còn lâu lắm. Năm năm. Mười năm. Hay lâu hơn nữa. Không có gì gấp gáp. Vậy mà, lạ, Võ Đình vẫn làm việc một cách khá hối hả: chỉ trong một thời gian ngắn, phần đóng góp của ông, dài hơn một trăm trang giấy in, đã được đánh máy cẩn thận và gửi qua tôi bằng email. Thấy ông hăng hái, tôi cũng hăng hái theo. Tôi phóng tay viết “Lời nói đầu”, gửi cho Võ Đình xem, ông đồng ý ký tên chung: Nguyễn Hưng Quốc và Võ Đình. Tôi lại nhờ em trai tôi, Nguyên Hưng, trình bày giùm bìa sách.

Cuốn sách, như vậy, xem như đã hoàn tất. Hoàn toàn.

Và để đó.

Chờ.

Không ngờ người ra đi trước lại là Võ Đình.

 

Melbourne 5 tháng Sáu 2009

Nguyễn Hưng Quốc

 

_________________________

[1]Trần Thị LaiHồng, “Manor/Mona/Mônà” đăng trên Gió O.

[2]Xem bài “Võ Đình, lý lịch trích ngang” trên Tiền Vệ.

[3]Bài “Chữ” được in trong cuốn Huyệt Tuyết của Võ Đình, Văn Nghệ xuất bản tại California năm 2002. Bài này cũng có thể đọc trên trang Gió O.

[4]Xem bài “Ông Hai Lâu” in trong cuốn Huyệt Tuyết.

[5]Một nhân vật trong truyện ngắn “Bàn thờ nhà bà Soa” của Võ Đình. In trong cuốn Huyệt Tuyết.

http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsess...

CÁI VĂN, CÁI VẼ, VÀ CÁI ĐẸP


Võ Đình

Loay hoay vậy mà đã bốn mươi năm cầm cọ. Có khi tôi ngồi lẫn thẩn tự hỏi: Hội họa là cái chi hè? Chỉ khi người ta về già mới tự  hỏi như vậy. Còn trẻ, người ta phăng phăng tiến tới, đầu óc đầy đặc những sáng tác với sáng tạo, tư tưởng với kỹ thuật, hình tượng với bố trí. Về già, người ta mới hỏi một câu cắt cớ như vậy. Nhưng không sao, hỏi rồi bỏ qua. Không cần trả lời. Không trả lời nhưng vẩn vơ nhớ lại dăm ba kỷ niệm thời nhỏ dại về cái vẫn đuợc gọi là hội họa. Chẳng hạn: Bà con cô bác đến nhà chơi  đều bị thằng nhỏ … vẽ chân dung, vẽ với cái que quẹt trên mặt đất. Chẳng hạn:  Lấy  mủ cây sầu đông trộn với bột màu, giả làm sơn dầu. Chẳng hạn: HỤT học vẽ với  cô M.H.

 Số là, hồi ấy, tôi mới mười hai, mười ba, một hôm cha mẹ tôi ngồi uống nước  nói chuyện. Cha tôi nói: “Bữa mô rảnh rảnh, mình dắt con ra ngoài cô M.H. cho hắn  học vẽ”. Mẹ tôi nói: “Mình nói phải, để đó tui lo”. Cha tôi lại nói: “Cho con hắn ra ngoài nớ, dọn dẹp quét tước cho Cô mà học vẽ”. Chữ cô nghe có vẻ gần gũi vì hình như  cô M.H. và mẹ tôi có bà con gần xa chi đó. Tôi nghe cha nói, thích lắm, thấy mình đã mon men đến đứng trước cánh cửa nghệ thuật rồi. Được làm đệ tử cô M.H., một vinh dự quá lớn lao.

 Đầu thập niên 40 ở Huế, ngoài phố lớn, có một cửa tiệm được đông đảo thị dân ngưỡng mộ: tiệm cô M.H. và ba người anh em trai của cô. Bốn anh chị em đều mang những danh hiệu hai chữ đẹp đẽ: tên con gái thì mỹ miều, tên con trai thì oai vệ.  Bốn anh em cô M.H. nổi tiếng tài hoa. Họ chụp ảnh chân dung, họ vẽ truyền thần,  phong cảnh… Trên đường đến trường hay về nhà, tôi khoái dừng lại nhìn vô gian hàng gắn kính của tiệm cô M.H.. Thích thú vô kể. Thường thường được thấy một vài chân dung hay phong cảnh sơn dầu: Thiếu nữ xinh đẹp, mặc áo tím hay trắng, tóc chải phồng  trước trán, ngón tay móc hờ trên giải nón, mắt ngước lên, xa xăm …, giòng sông lờ lửng, tháp chùa ẩn hiện sau cành trúc, cành phượng, thành cổ rêu phong trong ánh tà huy. v.v …

 Khi nghe cha nói “dọn dẹp quét tước cho cô mà học vẽ”, tôi hết sức mừng rỡ,  thấy câu chuyện học vẽ thật là quan trọng. Nghĩ rằng học vẽ cũng như học võ, hay đi tu. Phải tầm sư học đạo. Lên núi, lên chùa, lạy từ cổng lạy vô chưa chắc Thầy đã nhận  cho làm đệ tử. Phải thức khuya dậy sớm, phải gánh nước nấu cơm, phải quét sân  cuốc đất, rồi may ra Thầy mới dạy cho đôi điều. Tôi sẵn sàng vách chổi ra hầu sư mẫu ngoài phố.

 Mẹ tôi nói “để tui lo”. Ngày tháng tôi qua, mẹ đâu có lo. Bây giờ, râu tóc đã bạc, nghĩ lại, tôi nghiệm ra rằng mẹ không “lo”, chẳng phải vì mẹ vô tâm. Mẹ không “lo”  vì có lẽ trong thâm tâm, người đàn bà ít học mà hết sức tinh tế đó đã ngờ rằng “ngoài  cô M.H.” không phải là nơi cho đứa con trai yêu quí học vẽ. Nếu quả vậy thì mẹ tôi đã “ngờ” rất phải. Tôi không bao giờ được cái vinh hạnh cầm chổi quét phòng vẽ cho  cô M.H., hay cơ hội rửa cọ, chùi sơn cho các họa sĩ anh em của cô. Ở cái tuổi dễ bị  ảnh hưởng nhất, tôi đã suýt học vẽ với cô M.H. Trong đời, tôi cũng đã đôi lần từng biết cái may, sự rủi. Tôi có thể nói rằng một trong những cái may lớn nhất trong đời tôi là đã không học vẽ với anh em cô M.H. Hú vía!

 Không được (nhìn lui lại, nghĩ nên thay chữ được với chữ bị) học vẽ với cô M.H. nhưng vài năm sau, tôi lại được (hay bị?) đi Tây! Trên chiếc tầu thủy khổng lồ xuyên  đại dương lênh đênh cả tháng từ bến Sài Gòn về biển Nam Hải, ra Ấn Độ Dương,  lên Hồng Hải, vô Địa Trung Hải, đến Marseille, Pháp Quốc, tôi và dăm mống đồng hành du học sinh ngày ngày lên đứng lơ láo trên boong tầu … ngóng về cố quốc. Một hôm, thay vì ngóng về cố quốc, tôi chúi mũi vào cuốn sách nhỏ mới lượm được sáng đó dưới chân cầu thang dưới hầm tầu. (Về sau, mới biết rằng cuốn sách nhỏ ấy thuộc loại sách mỹ thuật mỏng tanh, rẻ mạt, nhắm đến tầng lớp đại chúng, do nhà Fernand Nathan ở Paris ấn hành). Cuốn sách có nhiều ảnh đen trắng tranh Picasso. Picasso?! Ở Huế,  tôi từng nghe tên nhà đại danh họa. Chỉ nghe tên thôi, chưa bao giờ được thấy dù là tranh in lại trong sách. Thế mà khi xem cuốn sách nhỏ sáng đó, tôi đã bàng hoàng xúc động. Một thứ xúc động lạ lùng, chưa từng được biết. Tôi nhìn các ảnh trắng đen in lại tranh Picasso (có thể bị coi là in ấn thô thiển nếu xét theo tiêu chuẩn ngày nay) mà lòng dạ bồi hồi khôn tả.

 Ở tuổi mới lớn, mười sáu mười bảy, trái tim tôi đã từng đắm đưối với những câu thơ đẹp, như “Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh” của Xuân Diệu, như “Chiều mưa trên bãi nước sông đầy” của Huy Cận, như “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong” của  Thâm Tâm. Con mắt tôi đã từng ngẩn ngơ vì ngón tay của người con gái móc hờ trên  giải nón bài thơ, vì dòng sông lờ lững dưới chân tháp cổ trong tranh anh em cô M.H.  Lỗ tai tôi đã từng mê mẩn với nào là “Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng” của Văn Cao, nào là “Đêm nay thu sang cùng heo may của Nguyễn Văn Thương, nào là “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi” của Đặng Thế Phong … Tôi đã từng xao xuyến vì những câu thơ, vì những bức tranh, vì những điệu nhạc, lời ca … Tuy còn non dại,  tôi cũng không phải hoàn toàn là kẻ xa lạ với những xúc cảm gọi là văn học nghệ thuật. Vậy mà hôm ấy, trên boong tầu, giữ đại dương, nhìn những bức tranh Picasso in lại trong sách (sau này nhớ lại mới biết đó là những tác phẩm ở thời kì bí hiểm nhất trong đời cầm cọ của ông: “Lập thể Phân tích” và “Lập thể Tổng hợp”) tôi đã bước chân vào một thế giới dị biệt với tất cả những gì tôi đã có kinh nghiệm trước đó. Nỗi xúc cảm lạ thường, dữ dội, hết sức bất ngờ.
 
Như có nói trên, tôi đã đôi lần biết đến sự may rủi ở đời. Một trong những cái may lớn nhất trong đời tôi là đã không học vẽ với anh em cô M.H. Nhưng đó, thật ra, mới chỉ là một nửa của cái may. Nửa kia là tôi đã được biết nỗi xúc động khi nhìn ngắm những đường ngang nét dọc, những mảng đậm nhạt của  Picasso. Nỗi xúc động, sau này tôi mới biết, là một thứ xúc động thẩm mỹ nguyên chất, trọn vẹn. Nỗi xúc động đã dạy cho tôi đôi điều cốt tủy trong nghệ thuật tạo hình. Đó là, thứ nhất, cái đẹp trong một bức tranh, chính là cái đã gây nên xúc động trong ta khi ta nhìn ngắm tranh; cái đẹp đó không  phát xuất từ đề tài của bức tranh không dính dấp đến những ý tưởng phụ thuộc của đề tài đó. Cái đẹp đó phát xuất từ cái cách người họa sĩ bố trí bức hoạ và sử dụng đường nét màu sắc để diễn đạt và giải quyết cách bố trí đó. Và, thứ hai, vẽ, không nhất thiết phải có hình thể, nói cách khác, không nhất thiết phải vẽ chân dung, phong cảnh, tĩnh vật,  hay phải sử dụng những yếu tố thuộc về “thực tại”, “hiện thực”, v.v… Thực tại của bức tranh mới là đáng kể. Người họa sĩ tạo nên thực tại này, và chỉ có thực tại này mới gây nên nỗi xúc động thẩm mỹ trong ta.

 Trong mấy chục năm qua, tôi đã lắm lúc nhớ lại những tấm tranh sơn dầu sơn nước của anh em cô M.H. Nhớ lại như những ràng buộc thắm thiết với một thời nhỏ dại,  như nhớ lại cây sầu đông trước ngõ hay bụi chuối sau nhà. Cô gái xinh đẹp mà e ấp, quyến rũ mà xa vời trong tranh của họ, cũng như dòng sông lãng đãng khói sương,  tháp chùa ẩn hiện sau khóm trúc cành phượng, dãy thành cổ rêu phong trong “bóng tịch dương”, tất cả đều là “Huế, đẹp và thơ”. Ai cũng yêu, cũng mến. Ai cũng đều thấy  như vậy. Nhưng tất cả những thứ làm nên “Huế, đẹp và thơ” ấy chẳng có liên quan gì đến hội họa cả. Chẳng những không ăn nhằm gì với hội họa, những “đẹp và thơ” ấy còn có thể gây nên phương hại cho cái nhìn ngắm của kẻ xem tranh. Cái “đẹp và thơ” đó có thể che lấp mất thực tại của bức tranh, và tạo nên ảo tưởng cho người nhìn tranh là đã thấy được tranh. Cái đẹp của thế giới thực tại bên ngoài, thế giới của tất cả mọi người, làm cho người xem tranh tưởng lầm đó là cái đẹp của tranh. Giòng sông trong mù, đẹp. Cô gái mộng mơ, đẹp. Nhưng giòng sông đẹp hay cô gái xinh kko thể tạo nên cái đẹp cho bức tranh nếu bức tranh được dàn dựng trong một bố trí khuôn sáo, ước lệ, hay được  cấu tạo bởi một bút pháp kém cỏi, tầm thường.

 

Ngược lại, thật may mắn cho nàng Mona Lisa. Tuyệt tác của Leonardo da Vinci,  cả thế giới đều biết, đều ngưỡng mộ. Bao nhiêu mực đã chảy để bàn vào tán ra về nụ cười – “hình như là” nụ cười – của La Joconde. Đẹp, thì thật ra, người mẫu cũng đâu có phải là bậc giai nhân tuyệt sắc. Còn vì sao nàng mỉm cười, nàng mỉm cười với ai, lúc nào, cái mỉm cười có ngụ ý gì, tựu trung chẳng phải là điều quan trọng. Quan trọng chăng là cách bố trí và nét cọ của da Vinci, nghệ thuật siêu đẳng của da Vinci. Năm thế kỷ trước đó, phóng bút vẽ vài thân trúc gầy với dăm ba chiếc lá xơ xác, Tô Đông Pha đã mở cánh cửa lớn đưa hội họa Trung Quốc vào con đường “văn – nhân – họa”, giã từ lối vẽ vốn đã lâu đời phụ thuộc vào phận sự trình diễn, kể chuyện. Rồi gần một ngàn năm sau họ Tô, chỉ với những mảng màu nâu, xám, vàng xỉn, những màu sắc u tối, nghèo nàn, khắc khổ, những đường ngang dọc, những nét chéo xiên có tính cách kỷ hà, Pablo Picasso đã cấu tạo nên được một ngôn ngữ tạo hình đọc đáo, diễn đạt được một ngôn ngữ tạo hình độc đáo , diễn đạt được một quan niệm mới mẻ về không gian và thực tại, làm cho cõi lòng người xem tranh xúc động như chưa từng trước đó.


  


  
Tôi không biết cô M.H. và các anh em cô có còn tại thế và được bình an không.  Tôi mong rằng nếu tình cờ đọc phải những dòng này, các cô chú sẽ thông cảm cho chú bé ngày xưa nay cũng đã trở thành một ông già sáu mươi mấy tuổi. Những bức tranh của  cô chú, nằm sau tấm kính lớn của gian hàng trên con đường đầy bóng phượng, con đường lớn nhất cố đô Huế, đã cho đứa bé của nửa thế kỷ về trước những giây phút thú vị  thần tiên. Vâng, đồng nhất cái đẹp của đất nước quê hương với cái đẹp mỹ thuật, cái đẹp trong hội họa, là một lầm lẫn nghiêm trọng, tôi xin thưa. Tuy vậy, tôi vẫn trân trọng  sự lầm lẫn ấy. Trân trọng vì thông cảm. “Huế, đẹp và thơ”, mấy ai cưỡng lại được!  “Huế, đẹp và thơ”, biết bao người, trong mấy thế hệ qua, đã sung sướng thỏa thuê trong sự lầm lẫn ấy.

 *

 Sự lầm lẫn ấy vô tội. Xem ra, lại đáng yêu. Hay đang nói theo lối Huế,  “dễ thương”! Sự lầm lẫn của thi sĩ Nam Trân, thời tiền chiến, mới là đáng trách.

 Thi sĩ thấy chiếc “thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng”. Trên thuyền có “cô gái Kim Long yểu điệu chèo”. Thế là thi sĩ vội vàng “xuống thuyền”. Và biện bạch  “rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo”. Mấy câu thơ vô duyên!

 Và cũng vô tội. Đáng tội chăng là ông Nam Trân tự cho mình là Thơ (vì ông là  thi sĩ). Đáng tội chăng là theo ông, cô gái Đẹp chèo thuyền là Đẹp, và Thơ thấy Đẹp ắt “phải tìm theo”. Những ý tưởng ngô nghê, liều lĩnh. Thi sĩ Nam Trân chạy theo cô gái Kim Long xinh đẹp (Ca dao: Kim Long mấy ả mỹ miều / Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi), được, mặc ông, ông cứ việc, chúc ông may mắn. Cớ gì ông phải ví von rằng ông “tìm theo” cô gái yểu điệu như thể Thơ “tìm theo” Đẹp?

 Thi sĩ Nam Trân thuộc về một thuở xa xưa. Gần gũi chúng ta hơn có ông Võ Phiến. Một nhà văn lớn: tài hoa, sâu sắc, kiên trì. Trong cuốn Sống và Viết (Văn Mới,  Los Angeles, một996) xuất bản gần đây của ông  có bài tạp luận Cái Văn Cái Vẽ (tr.79). Tôi khoái cái nhan đề của bài này. Ông Võ Phiến nói về chuyện văn (chương)  và  chuyện vẽ (họa). Ông gộp hai chuyện đó lại thành Cái Văn Cái Vẽ. Mới liếc qua, hay người đọc vô ý có thể tưởng lầm cái đề là Cái Văn Cái Vẻ (Vẻ với dấu hỏi).  Văn Võ Phiến có nhiều nét đặc sắc, trong số đó có nét … tinh quái: tôi ngờ rằng tác giả  cố tình “mập mờ” như vậy.

 Cô Kiều đẹp là thế, ông viết, nhưng “mình có vài ba chỗ yếu: thích má lúm  đồng tiền; hai bên má Kiều có được đồng tiền nào chăng? Thích mắt gái một mí, có đuôi (…) cô Kiều (…) có thế chăng? v.v…”. “Tả người tả cảnh như Nguyễn Du là nhất” vậy mà cụ chỉ cho biết rằng Kiều có “mắt như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân, má đỏ hơn hoa, tóc xanh hơn liễu, v.v… Cái gì cũng mơ mơ, hồ hồ”. Nói chơi chơi, ông Võ Phiến làm sáng tỏ ý niệm căn bản về cái đẹp. Thứ nhất, câu thơ của Nguyễn Du đẹp không phải nhờ ở cái đẹp của đề tài. Không đẹp vì núi mùa xuân hay nước mùa thu đẹp. Và nhất định không đẹp vì … cô Kiều đẹp. Thứ hai, Kiều đẹp như vậy đó, chắc gì chàng trai nào cũng mê, cũng thích. Anh đàn ông có thể mê cái má lúm đồng tiền hơn, hay thích con mắt một mí có đuôi hơn. Nghĩa là trong sự yêu thích mê say ở thế giới con người, “bá nhân bá  bao tử”! Yêu thích một câu thơ dở có thể là một cái “tội”. Huống hồ yêu con mắt một mí có đuôi hơn yêu con mắt như “nước mùa thu”, yêu cái má lúm đồng tiền hơn yêu đôi mày như “núi mùa xuân”. Cụ Nguyễn Du biết thế cho nên cụ lững lơ, cụ chỉ tả Kiều “như vầy, như vầy” cụ để mặc cho ta lựa chọn, cụ để mặc cho ta tưởng tượng. Và vì thế mới có tranh minnh họa Kiều. Thi sĩ là người thì họa sĩ cũng là người. Họa sĩ A vẽ Kiều của họa sĩ A. Họa sĩ B vẽ Kiều của họa sĩ B. Không ai vẽ Kiều với “làn thu thủy, nét xuân sơn” cả, bởi vì Kiều của các họa sĩ (nghĩa là Kiều thấy được với con mắt) không còn là Kiều của Nguyễn Du nữa. Kiều của các họa sĩ là Kiều của họ, quần chúng đọc sách xem tranh thích hay không thích, khen hay chê, tùy. Tranh minh hoạ là thế, chứ  không phải như ông Võ Phiến tưởng: cái tả của cụ (nguyễn Du) (cũng như của mọi  nhà văn nhà thơ) không thỏa mãn được một số đòi hỏi. Các họa sĩ biết chỗ ấy. Họ muốn tiếp tay”. Oan cho các họa sĩ quá. Họ đâu có vô công rỗi nghề đến cái mức vác cọ đi “tiếp tay” như thế.

 Ông Võ Phiến lại viết: “Người viết vẽ bằng lời, vẽ một chân dung trên giấy thành muôn vạn bản chân dung trong trí người đọc. Người họa sĩ (cũng là một độc giả) đem cái chân dung thành hình trong trí mình đặt lên khung vải, như thế là chỉ đưa ra một bản trong muôn bản, là làm rõ ra nhưng nghèo đi cái bản vẽ bằng lời”. Quả có vậy.  Tuy nhiên, ở đây có đôi điều mù mờ cần được “minh họa”. Dựa lời thì dễ mất ý, chúng ta đều biết.

 Hội họa Đông Tây, cổ kim đều trải qua thời kỳ mang tính cách “minh họa”, thời kỳ sự phân biệt giữa nhà minh họa và nhà họa sĩ còn hết sức lấn cấn. Nói chung chung,  nhà minh họa lệ thuộc vào đề tài, họa sĩ được tự do, độc lập hơn. Cũng nói chung chung, nhà họa sĩ được “coi trọng” hơn vì tác phẩm của họ được coi như sáng tạo hơn, thâm thúy hơn. Thực tế không giản dị như vậy. Sự đánh giá, thực ra, nằm ở trình độ nghệ thuật chứ không phải ở lãnh vực nghề nghiệp. Có những họa phẩm có tính chất minh họa nhưng vì trình độ nghệ thuật vượt bậc cho nên khía cạnh minh họa được quên đi và giá trị sáng tạo được đề cao. Ngược lại, có những họa sĩ vẽ những tranh gọi là sáng tạo, nhưng vì trình độ nghệ thuật thấp kém nên tác phẩm lại bị xem như những bước minh họa tầm thường.

 “Người họa” của ông Võ Phiến “đem cái chân dung thành hình trong trí mình đặt lên khung vải” bị ông chê là “làm rõ ra nhưng nghèo đi cái bản vẽ bằng lời”. Bị chê là đáng kiếp. Bởi vì chỉ có “Người họa” xoàng mới lẫn thẩn dùng đến cái “chân dung thành hình trong trí”. Chỉ có “người họa” tồi mới làm công việc sao chép đó. Lịch sử Đông Tây không hiếm những tác phẩm, tuy có tính minh họa (một câu chuyện, một tuồng tích,  hay một bản văn, bài thơ) nhưng vì trình độ nghệ thuật cao nên đã được khắc sâu vào tâm trí của bao nhiêu thế hệ khác thưởng ngoạn.

 Đó là chuyện của thế kỷ mười chín trở về trước. Những thập niên đầu của thế kỷ XX chúng ta, hội họa từ bỏ hẳn công việc, chẳng những minh họa mà còn diễn đạt thực tại của thế giới bên ngoài: thời đại của hội họa trừu tượng. Trước đó, hội họa chẳng bao giờ phí công “dùng cọ dịch chữ ra màu, dịch lời ra nét” như ông Võ Phiến đã viết trong C ái Văn Cái Vẽ. Bây giờ, hội họa lại càng tự túc, tự mãn hơn, hỗn hào với cả Tạo hoá:  Hội họa tạo nên thực tại của một thế giới khác.

 Ông Võ Phiến kể lại giai thoại nhà văn Gustave Flaubert, tác giả Madame Bovary, khi được nhà xuất bản Charpentier đề nghị mời người minh họa cho sách ông, đã từ chối thẳng tay. Chẳng những từ chối, còn xì nẹc thậm tệ. Ông Võ Phiến than: “Ông (Flaubert) tuyên bố một nguyên tắc: Minh họa là phản văn  chương. Khiếp, Flaubert hung dữ quá.”

 Chúng ta đều biết Flaubert là một người cầm bút rất khó tính, đối với cả chính mình. Điều đó, cả nước Pháp văn học lấy làm hãnh diện. Tuy nhiên, có điều đáng tiếc cho Flaubert. Nhà văn lớm đã không được cơ hội gặp một nhà minh hoạ tài ba. Như nhà thơ St Jonh Perse đã gặp họa sĩ Georges Braque. Khi ấn hành tập Oiseaux (Birds) song ngữ của thi hào này, nhà Bolligen đã mời Braque thực hiện cho mấy thủ ấn họa tuyệt vời.  Cái vẽ của Braque không làm “sáng tỏ” gì lời thơ của St Jonh Perse. Ở đây cái vẽ không phục cái văn. Cái vẽ không làm đầy tớ cái văn. Cái văn cái vẽ làm bạn tri kỷ, đồng hành. Cái văn cái vẽ ôm ấp nhau cùng trong một bìa sách. Và kẻ hưởng lợi là không một ai khác ngoài chúng ta.

 *
 

Võ Phiến là một văn tài thượng hạng. Nguyễn Hưng Quốc đừng tưởng chỉ có  mình ông mới “mê giọng văn Võ Phiến, ngôn ngữ Võ Phiến, trước khi chú ý đến  những gì Võ Phiến nói”! (Nguyễn Hưng Quốc, Võ Phiến, Văn Nghệ, một996, tr.32).  Bản thân tôi, nhân viết bài này, đọc lại cuốn Sống Và Viết, đặc biệt là cái văn cái vẽ, mới nhận ra rằng đàn anh cầm bút của mình đã … cả vú lấp miệng em! Thật ra, anh Võ Phiến có nói gì oan ức cho người vẽ thì người vẽ cũng hoan hỉ chấp nhận thôi.  Viết hay như ông, viết gì cũng được người đọc thích thú, huống hồ ông chỉ “nghĩ bâng quơ đôi điều là vì lo lắng cho cái văn. Nghệ thuật bằng ngôn ngữ bằng chữ viết là đứa em út trong đại gia đình nghệ thuật (…) Ấy vậy mà gần đây nó bị các nghệ thuật bằng  âm thanh và hình sắc lấn át thấy rõ. Trên truyền thanh truyền hình, hàng ngày cái hình cái tiếng nó lấn cái chữ, lấn chết bỏ. Đứa em út trong gia đình bị uy hiếp tơi bời,  đáng tiếc quá”


  


  

Tôi nhỏ hơn ông Võ Phiến đến gần chục tuổi. Vậy mà loay hoay cũng đã bốn mươi năm cầm cọ rồi. Về già, như tôi đã nói ở trên, người ta mới hỏi một câu cắc cớ như  hội họa là cái gì… tôi đoán chừng cũng có lúc ông Võ Phiến đã tự hỏi “văn chương là  cái gì”. Vâng, hội họa là nghệ thuật của con mắt, nghệ thuật bằng hình sắc, cũng như  văn chương là nghệ thuật bằng ngôn ngữ, bằng chữ viết. Chúng ta đều biết như vậy.  Tuy nhiên, phải chăng đến một lúc nào đó trong đời chúng ta không còn coi sự khác biệt về phương tiện là quan trọng nữa. Quan trọng chăng là lẽ huyền bí của đất trời.  Quan trọng chăng là sự kỳ diệu của niềm xúc cảm, là nét ẩn mật của nổi xôn xao mà nghệ thuật cống hiến cho con người. Kiếp nhân sinh lắm ê chề, chỉ vì nhờ có nghệ thuật mà cuộc đời vẫn huê dạng, mà cuộc sống càng gấm hoa. Nhà mỹ thuật học người Anh, Bernard Berenson, thuộc vào hạng sư tổ: ông thường hà tiện chữ nghĩa lắm. Vậy mà ông có lần huênh hoang rằng không có nghệ thuật thì thế giới này chỉ là rừng rú  hoang dã thôi.


  

Ông Võ Phiến viết “nghệ thuật bằng âm thanh và hình sắc”. Tôi không muốn  giành lời của các nghệ sĩ của âm thanh. Tôi chỉ khẳng định rằng hội họa, nghệ thuật bằng hình sắc, chẳng những không bao giờ “lấn át” nghệ thuật bằng ngôn ngữ, bằng chữ viết mà chính nó còn bị “cái hình” trên truyền hình, trên sách báo “lấn chết bỏ”. Tuy có chen có lấn đó nhưng giữa “cái hình” đó và hội họa có một cách biệt nghìn trùng. Đó cũng là cái cách biệt của những lời ngon ngọt rêu rao bán bột giặt, thuốc nhuận trường, nước súc miệng, ống xịt chống mồ hôi, giữa thú ngôn ngữ đó trên truyền hình, trên sách báo,  và câu văn tiếng nói của Võ Phiến.


             

1997

 

03.06.2009

CHIA BUỒN

VoDinh.jpg
 
Được tin nhà văn/họa sĩ

VÕ ĐÌNH

Tên thật: Võ Đình Mai

Pháp danh: Nguyên Chân

Đã từ trần lúc 6 giờ 20 chiều ngày 31 tháng 5 năm 2009

(nhằm ngày 8 tháng 5 năm Kỷ Sửu)

Tại tư gia, West Palm Beach, Florida

Hưởng thọ 76 tuổi

 

xin thành kính chia buồn cùng bà quả phụ Võ Đình Mai, khuê danh Trần thị Lai Hồng, và tang quyến

và cầu chúc linh hồn nhà văn/họa sĩ VÕ ĐÌNH tiêu diêu nơi miền cực lạc.

 

Nguyên Hưng

 

 

24.05.2009

Quanh vụ Lê Thiết Cương-Lê Quảng Hà

Tư liệu chung quanh vụ Lê Thiết Cương-Lê Quảng Hà trên tiền vệ

Mèo trông nhà.doc

09.04.2009

Lại không được nhập cảnh vào Việt Nam (Nguyễn Hưng Quốc)

 

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Tuấn, tức Nhà Phê bình Văn học Nguyễn Hưng Quốc, sinh ngày 29/10/1957 tại Quảng Nam, miền Trung VN; đậu Tú Tài 2 vào năm 1975, tốt nghiệp Thủ khoa trường Sư phạm và dạy học tại Sài Gòn. Ông vượt biển, đến trại tị nạn Nam Dương vào năm 1985, được định cư tại Pháp, ông qua Úc vào năm 1991. Ông đậu bằng Tiến sĩ Lý thuyết Văn học tại Đại học Victoria, thành phố Melbourne, Úc châu.

 

Hiện nay ông là Giáo sư tại đây. Trường này mở nhiều lớp tiếng Việt và văn hóa Việt với các trình độ khác nhau.Ngoài các lớp tiếng Việt ở bậc Cử Nhân, đại học này còn thu nhận sinh viên và nghiên cứu sinh các cấp Honours (1 năm), Master (2 năm) và Ph.D. (3 năm) về Việt học. Ở cấp Honours (dành cho những người đã học xong chương trình Cử Nhân), sinh viên có thể viết luận văn tốt nghiệp bằng tiếng Việt. Tất cả các cấp này đều do TS Nguyễn Ngọc Tuấn phụ trách điều hành và giảng dạy với chức vụ Chủ nhiệm (co-ordinator) Khoa Việt Học.

 

Ông đã xuất bản các sách:

 

Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam (1988)

Nghĩ về thơ  (1989)

Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991 & 1996)

Võ Phiến (1996)

Thơ, v.v... và v.v...(1996)

Văn học Việt Nam từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại (2000)

Văn hoá văn chương Việt Nam (2002

Sống với chữ (2004)

Thơ Con Cóc và những vấn đề khác (2006)

Mấy vấn đề phê bình và lý thuyết văn học (2007)
 

(Phạm Xuân Nguyên giới thiệu)

 

 

Lần này chuyến đi Việt Nam của tôi được tiến hành một cách khá bí mật. Trừ vợ con và một số ít đồng nghiệp ở đại học nơi tôi dạy, tôi không hề hé môi với bất cứ ai cả. Người quen: không. Bạn bè: không. Ngay với thân nhân của tôi, trong đó có ba tôi, người lúc nào cũng khắc khoải mong gặp lại tôi "lần cuối" - theo chữ ông thường dùng - tôi cũng giấu bặt. Tôi định chỉ thông báo cho mọi người biết khi tôi đã đặt chân an toàn trên đất Việt Nam.


Thật ra, chuyến đi cũng chẳng có một "sứ mệnh" gì đặc biệt đến nỗi phải giữ bí mật đến như vậy. Tôi chỉ về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do đại học Monash ở Úc và Đại Học Mở ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Chủ đề của cuộc hội nghị rất hiền lành: Vai trò của ngôn ngữ và giáo dục đa văn hoá trong việc giáo dục các cộng đồng địa phương trong nền kinh tế toàn cầu (The role of language and multicutural education in educating local communities in global economies) dự định được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4. Bài tham luận tôi sẽ trình bày cũng rất hiền lành: "Việc bảo tồn tiếng Việt tại Úc: nhìn từ kinh nghiệm của các gia đình hôn nhân dị chủng Việt Úc" (Vietnamese language maintenance in Australia: A perspective from cross-language Australian - Vietnamese families). Đây là một phần trong dự án lớn được trường Đại Học Victoria ở Melbourne tài trợ để nghiên cứu trong năm 2008. Kết quả các cuộc điều tra dân số trong nhiều năm qua cho thấy: tiếng Việt là một trong vài ngôn ngữ cộng đồng được bảo tồn tốt nhất tại Úc. Tỉ lệ những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình rất thấp; ở thế hệ thứ hai cũng thấp; thấp hơn hẳn các ngôn ngữ cộng đồng lớn khác ở Úc. Số lượng học sinh học tiếng Việt tại các trường ngôn ngữ sắc tộc ở Melbourne rất cao, chỉ đứng sau tiếng Hoa (gồm cả tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại). Nhưng đó là trong các gia đình Việt Nam. Còn trong các gia đình hôn nhân dị chủng giữa người Việt và người Úc thì sao? Ở đây cũng có điều cần ghi nhận: cộng đồng Việt Nam là cộng đồng ít lấy người nước ngoài nhất tại Úc:  ở thế hệ thứ nhất, tỉ lệ người Việt có vợ hay chồng khác chủng tộc chỉ khoảng 8 hay 9 phần trăm; ở thế hệ thứ hai chỉ khoảng 14%. Vấn đề tôi đặt ra trong đề tài nghiên cứu của mình là: Con cái trong các gia đình hôn nhân dị chủng này có biết nói tiếng Việt hay không? Nếu có, tại sao? Và mức độ thông thạo đến đâu? Vai trò của cha mẹ trong việc duy trì tiếng Việt của con cái như thế nào? V.v... Để trả lời các câu hỏi ấy, tôi và các phụ tá nghiên cứu đã phỏng vấn 14 gia đình. Phỏng vấn bố. Phỏng vấn mẹ. Phỏng vấn con. Tư liệu thu nhặt được khá phong phú. Đủ để phân tích và đi đến một số phát hiện thú vị liên quan đến quan niệm của bố mẹ, người Việt và người Úc, về vấn đề song ngữ (bilingualism) và vấn đề bản sắc song văn hoá (bicultural identity).


Tôi giữ bí mật cũng không phải vì có âm mưu gì ghê gớm cần giấu giếm cả. Không. Ngoài việc tham dự hội nghị, nếu có chương trình gì khác, chắc chắn cũng chỉ quanh quẩn trong mấy việc quen thuộc: đi mua sách, đi bát phố, gặp gỡ và tán dóc với thân nhân và bạn bè. Vậy thôi. Tôi giữ bí mật chỉ vì dè dặt. Dè dặt chỉ vì một kinh nghiệm cay đắng đã từng xảy ra vào cuối năm 2005, lúc tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Lần ấy, tôi cũng có visa. Vậy mà đến phi trường Tân Sơn Nhất vẫn bị từ chối nhập cảnh, cuối cùng, phải bay ngược về lại Úc, bỏ mặc đám sinh viên Úc ngơ ngác ở phi trường, không biết chuyện gì xảy ra với thầy của mình, và cũng không biết làm gì ở một đất nước, với phần lớn các em, hoàn toàn xa lạ. Lần ấy, không ai cho tôi biết lý do tại sao tôi bị cấm vào Việt Nam. Trong biên bản, phần lý do, công an cửa khẩu chỉ ghi mấy chữ: "Theo lệnh trên". Trên là ai? Và lệnh ấy là gì? Không ai cho biết. Về lại Úc, trường đại học nơi tôi công tác, viết thư lên Toà Đại Sứ Việt Nam để hỏi, cũng chẳng có ai trả lời, bất chấp những quy tắc ngoại giao và xã giao tối thiếu.[i]


Chuyện xảy ra năm 2005 cũng có thể xảy ra bây giờ. Tôi biết vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử. Trước hết, tôi cho việc cấm tôi nhập cảnh vào Việt Nam năm 2005 chỉ là một quyết định vu vơ, chẳng có lý do gì chính đáng, và do đó, càng không có lý do gì để kéo dài cả. Vả lại, tôi cũng nhớ Việt Nam. Nhiều thân nhân tôi còn ở đó. Nhiều bạn bè tôi còn ở đó. Quá khứ với gần 30 năm đầu tiên trong đời của tôi ở đó. Tiếng Việt, cái ngôn ngữ gần gũi nhất của tôi, cái làm cho tôi-là-tôi, cũng chủ yếu ở đó. Trên các ngả đường. Trong các tiệm ăn. Ở mọi nơi. Hơn nữa, đó cũng là quê hương của tôi, điều mà tôi tin là không có ai có thể dành độc quyền hay trấn lột được.


Khi được chính thức mời tham dự cuộc hội nghị, tôi gửi đơn xin nhập cảnh. Cũng chẳng hy vọng gì lắm. Cũng là một cách "thử" thôi. Không ngờ, mấy ngày sau, tôi lại nhận được visa với chữ ký của tham tán Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc, bà Hồ T. Phương Thảo. Cẩn thận, tôi không kể với ai cả. Để khỏi làm "rách việc", nói theo ngôn ngữ đang thông dụng trong nước. Nhưng trong lòng vẫn tự nhủ: chẳng có lý do gì để gặp trục trặc lần nữa. Bởi, tôi nghĩ, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc thừa biết tôi là ai. Họ cũng thừa biết là tôi đã từng gặp trục trặc trong việc nhập cảnh lần trước. Chắc thế nào họ cũng "tham khảo" với Bộ Công An để tránh lặp lại cái điều đã từng xảy ra hồi cuối năm 2005.


Cuộc hội nghị chính thức diễn ra trong hai ngày 7 và 8 tháng Tư. Tối Thứ Hai, ngày 6, là buổi tiệc khoản đãi các diễn giả. Tôi muốn đến Hà Nội trước một ngày. Ngày ấy không có chuyến bay thẳng nào từ Melbourne đến Hà Nội. Nên tôi phải ghé lại Bangkok và phải mất thêm hai tiếng đồng hồ chờ đợi đổi chuyến bay, cộng thêm một tiếng rưỡi nữa để bay về Hà Nội. Tổng cộng là 12 tiếng. Mệt, nhưng nghĩ đến chuyện được gặp lại thân nhân và bạn bè, kể cũng vui.


Chiếc máy bay TC682 từ Bangkok hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào lúc 9:27 sáng Chủ Nhật 5/4. Phi trường quốc tế Nội Bài, với tôi, khá lạ. Lần đầu tiên tôi đến phi trường này là vào năm 1996, trên một chuyến bay từ Hong Kong. Sau đó, tôi về Việt Nam vài lần nữa, nhưng lần nào cũng ghé Sài Gòn trước, làm hết thủ tục nhập cảnh rồi mới bay ra Hà Nội, trên một chuyến bay nội địa. Bởi vậy, lần này, tôi thấy mọi sự đều mới mẻ. Từ cảnh đến người. Chỉ duy có một điểm chung nhất, ở tất cả các phi trường tại Việt Nam, từ quốc tế đến quốc nội: đó là gương mặt lạnh lùng, vô cảm của các nhân viên hải quan. Đặt chân đến các nước khác qua ngả hàng không, điều chúng ta bắt gặp đầu tiên có thể là một nụ cười. Ở Việt Nam thì không. Tuyệt đối không. Gương mặt nào cũng lạnh tanh. Ánh mắt nào cũng lạnh tanh. Không khí chung quanh lạnh tanh.


Nhân viên hải quan ở quầy tôi đến mang bảng tên Đặng Tiến Dũng với mã số 008-688. Còn trẻ. Nhưng vẫn lạnh tanh. Dũng săm soi tờ hộ chiếu của tôi rất lâu. Rồi nhìn trên computer. Lại lật tới lật lui tờ hộ chiếu. Lại chăm chú đọc gì đó trên màn ảnh computer. Tôi linh cảm có gì không ổn. Nhưng vẫn kiên nhẫn chờ đợi. 10, rồi 15 phút trôi qua. Các hành khách trên chuyến bay từ Bangkok đã đi gần hết. Sau đó, Dũng đi gọi một nhân viên hải quan khác, mang bảng tên Dương Văn Huấn đến. Huấn cũng lại nhìn trên màn ảnh computer. Sau đó, Huấn cầm tờ hộ chiếu của tôi đi ra và bảo tôi  đi theo. Đến phòng Công An Cửa Khẩu Nội Bài, Huấn bảo tôi ngồi chờ trên dãy ghế ngoài cửa rồi vào trong. Bằn bặt. Ngồi buồn, tôi mở điện thoại di động ra gọi cho một số người thân. Là, tôi đang chờ ở phi trường Nội Bài. Cả nửa tiếng đồng hồ sau, mới có một người mặc thường phục - sau này tôi biết tên là Lê Thao, đại diện hãng Hàng Không Thái Lan tại Việt Nam - ra hỏi tôi có hành lý không. Tôi bảo có. Thao bảo tôi ra ngoài lấy hành lý. Có mấy công an đi sau. Lúc ấy quầy hành lý đã vắng lắm. Chỉ có hai cái va-li của tôi chạy lòng vòng. Thao và một viên công an khác đẩy hành lý của tôi, cả bọn vào lại văn phòng công an cửa khẩu. Vẫn đứng ở ngoài cửa. Thao rút điện thoại di động nói chuyện với ai đó. Bảo, thu xếp gấp một vé máy bay đi Bangkok cho ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Tôi vọt miệng hỏi: "Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?" Thao đáp: "Em là đại diện của hãng Hàng Không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh về lại Bangkok." Tôi ngạc nhiên: "Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà?" Lúc ấy, một trong bốn, năm tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: "Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam." Tôi lặp lại câu nói vừa rồi: "Nhưng tôi đã được Toà Đại Sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh vào Việt Nam rồi mà!" Viên công an ấy lại lặp lại câu nói vừa rồi: "Nhưng nhà nước không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh." Tôi ngạc nhiên thực sự: "Nếu vậy, tại sao Toà Đại Sứ Việt Nam ở Úc lại cấp giấy nhập cảnh cho tôi?" Viên công an ấy đáp: "Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà Đại Sứ ở Úc." Nói xong, viên công an ấy và mấy người khác kéo hành lý của tôi và giục tôi đi. Tôi hỏi: "Đi đâu?" Lê Thao dành đáp: "Anh lên máy bay về lại Bangkok. Chuyến bay đang chờ anh." Tôi bảo đưa tôi xem giấy quyết định cấm tôi vào Việt Nam. Một viên công an chạy vào trong; một lát, chạy ra đưa tôi tờ biên bản đã ký sẵn, trừ chữ ký của "khách không đủ điều kiện nhập cảnh" - là tôi.[ii]


Đọc tờ biên bản, tôi mới thấy những câu "nhà nước Việt Nam không hoan nghênh việc nhập cảnh của anh" là câu đã được in sẵn. Họ chỉ lặp lại. Như vẹt.


Tôi điện thoại cho người đại diện Ban tổ chức cuộc hội nghị, báo tin tôi không được nhập cảnh. Chị bảo sẽ liên lạc ngay với công an. Tôi gọi điện thoại cho gia đình và một số bạn bè. Cũng để thông báo cái điều tương tự. Các công an cửa khẩu đứng kiên nhẫn nghe tôi trò chuyện. Xong, Lê Thao bảo: "Chúng ta đi." Tôi sực nhớ lại cảnh tôi bị trục xuất ở phi trường Tân Sơn Nhất vào chiều Thứ Bảy 19 tháng 11 năm 2005. Lần đó, tôi ở phi trường đến hơn 5 tiếng. Trời oi bức lạ thường. Tôi phải vào toilet mấy lần để đi tiểu hoặc rửa mặt. Lần nào cũng có một, hai tên công an đi theo. Tôi rửa mặt, họ đứng bên cạnh. Tôi đứng đái, họ cũng ở bên cạnh. Thực tình, tôi chẳng biết họ canh chừng điều gì. Nhưng tôi không hề muốn lặp lại cái cảnh mình đứng đái có người kè kè bên cạnh. Tôi đứng dậy, đi theo Lê Thao.

Đó cũng là chiếc máy bay mới chở tôi từ Bangkok sang. Vẫn những cô tiếp viên cũ. Có người nhận ra tôi ngay. Tôi mới ngồi xuống ghế, chiếc máy bay đã lăn cánh ra phi đạo. Lúc ấy là 10:45 phút sáng. Tính ra, tôi chỉ ở phi trường Nội Bài đúng một tiếng 15 phút. Lúc máy bay cất cánh, tôi chợt nhớ đến bài thơ "Lần tới... là bao giờ!" của Trần Tiến Dũng. Bài thơ được viết sau ngày tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 2005, đã được đăng trên Tiền Vệ. Tôi lẩm nhẩm đọc, một mình, bài thơ trong trí nhớ:


mưa và nước đái chảy qua thành phố ngây ngất ướt

tiếp tục đi dưới mưa tháng mười hai

ngóng dòng sông người và ngó xuống

con cặc của mình chờ tới giờ đi đái với sự áp tải của hai gã công an

mọi sắc óng ánh đều lạnh sau gáy

tiếp tục đọc thơ và đái

và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt

mừng tưng tưng rơi ướt từ ống quần đến mõm giày

rơi dài dài và nhớ lại

một bệt phân mùa cúm chim rớt trúng đầu

cái màu đỏ hắt nước mưa đầy mặt

nhớ lại đi em

mọi người sống trơ trơ trong đô thị tháng mười hai

những cái đầu trống rỗng đến mát mẻ

chúng ta là bạn tù

một người nào đó núp dưới cửa sổ đã gọi tên em

nhớ lại đi em

một thằng gieo mình vào vòng tay tuyệt vọng

thằng đó tin rằng nách em thơm như ngày xưa

lông nách và mùi nách không bao giờ có tuổi

chúng ta ở tù chưa đủ lâu để viết những câu cuối cho bài thơ

chưa đủ lâu để có cái la bàn và tranh cãi và cá độ

cửa nhà tù ở hướng nào trong cơn mưa của đôi mắt?

Nguyễn Hưng Quốc

Lần tới... là bao giờ!

được phép thăm nuôi người cha mỏng manh và bạn tù văn nghệ


về hai con nhỏ chân dài

ngây ngất ướt dưới tháng mười hai Sài Gòn

chúng ta tiếp tục đọc thơ và cá độ

hai con nhỏ dâm hết biết đó

tìm đường Tự Do hay chìm giữa hố người Đồng Khởi.

30/11/2005

Lúc ấy, tôi chợt nhớ là, trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ở phi trường quốc tế Nội Bài, tôi chưa kịp đái một phát nào cả.


Thật tức.


Thôi, hẹn dịp khác vậy.



Melbourne ngày 7.4.2009

 

 

 

09.03.2009

Buôn dưa lê, Tám chuyện và Đối thoại

Lê Long Khánh

 

Tôi rất thích mục Đối Thoại trên Tiền Vệ. Từ ngày có mục Đối Thoại, tôi vào Tiền Vệ thường xuyên hơn. Và lần nào cũng đọc các bài Đối Thoại trước. Không phải bài nào tôi thích hay ý kiến nào tôi cũng đồng ý nhưng nói chung tôi thích cái không khí của Đối Thoại. Theo tôi, đối thoại là điều cần cổ vũ và cũng cần được nuôi dưỡng nhất để xây dựng một xã hội dân sự văn minh hiện nay.

 

Ở Việt Nam hiện nay, điều chúng ta thiếu nhất có lẽ cũng là tính đối thoại.

 

Thay thế cho tinh thần đối thoại là thói quen buôn dưa lê và tám chuyện.

 

Cả hai đều chỉ việc ngồi lê đôi mách, nói những chuyện vô ích vô bổ, phần nhiều thuộc về đời riêng của người khác. Không biết xuất hiện từ bao giờ nhưng rõ ràng là từ mấy năm nay cả hai từ ấy đã trở thành rất thông dụng trong nước. Chỉ cần lướt trên Google, chúng ta dễ dàng bắt gặp những bài báo có nhan đề, đại khái, “những bà vợ mắc bệnh buôn dưa lê”, “buôn dưa lê ở công sở”, “Tại sao chị em thích buôn dưa lê?”, “Vợ tám chuyện phòng the khiến chồng bị bất lực”, “Tám chuyện tình yêu”, v.v... Từ các hiện tượng ngồi lê đôi mách như vậy, nhiều bài báo đã đề cập đến “văn hoá tám” ở các công sở Việt Nam hiện nay: khi giám đốc hay trưởng phòng vừa mới quay lưng đi ra khỏi phòng, các nhân viên, thay vì làm việc, lại nhao nhao lên nói chuyện. Toàn những chuyện hóng hớt về người này người nọ. Không có chuyện nào bảo đảm chính xác. Nhưng chuyện nào cũng ly kỳ hấp dẫn. Chẳng hạn, ông này mới có vợ bé; bà nọ vừa cắm sừng chồng, v.v... và v.v...

 

Đặc điểm nổi bật nhất của văn hoá buôn dưa lê hay tám chuyện là sự vắng mặt của tính đối thoại. Người nói và kẻ nghe gần như đồng loã với nhau trong việc loại trừ những kẻ được/bị đề cập. Những người đàn ông bị mang đi buôn dưa lê hay tám chuyện là có bồ nhí có thể sẽ không bao giờ biết được là mình bị lôi ra làm đề tài trong các buổi nói chuyện ấy. Và nếu hắn bị oan, hắn cũng không bao giờ có cơ hội để giải trình, để xác minh cả. Có nghĩa là hắn vĩnh viễn là một nạn nhân: hắn bị dèm pha và hắn bị tước quyền trả lời.

 

Với đặc điểm như thế, văn hoá buôn dưa lê hay văn hoá tám không phải chỉ có ở các công sở, ở các tiệm cà phê hay các quán nhậu. Nó còn xuất hiện ngay cả trên các diễn đàn chính thức và chính thống của nhà nước. Trên các cơ quan ngôn luận của quốc gia, cũng có đầy dẫy những chuyện buôn dưa lê và tám chuyện như vậy. Về nhà văn này hay nhà thơ nọ. Về cuốn sách này hay cuốn sách nó. Toàn là những chuyện nhí nhách. Những giai thoại. Những lời đồn thổi. Và người được/bị đề cập, nếu muốn, cũng không có quyền lên tiếng để thanh minh hay tự bảo vệ mình.

 

Một nền văn hoá đối thoại thì khác hẳn. Nó nhắm đến ý tưởng chứ không phải đời tư; đến lập luận chứ không phải giai thoại. Nó căn cứ trên văn bản, có câu chữ làm chứng, chứ không phải là những lời đồn đãi trong dư luận. Nó cũng chấp nhận, hơn nữa, khuyến khích mọi phản hồi, và cùng với nó, mọi sự tranh biện. Nó không nhằm áp chế hay khống chế ai cả: nó chỉ nhắm đến mục tiêu làm sáng tỏ một vấn đề.

 

Một văn hoá đối thoại như thế rõ ràng có cội rễ sâu xa trong các nền văn minh cổ đại. Đọc lại tập Luận Ngữ mà xem. Ở đó Khổng Tử và các môn đệ hầu như lúc nào cũng đối thoại với nhau. Ở Tây phương, Socrates cả đời đi đối thoại. Phần lớn các tác phẩm của Plato đều xây dựng trên các cuộc đối thoại giữa Socrates và ai đó. Aristotle cũng viết đối thoại (dù hầu hết đã bị thất lạc). Phần lớn các triết gia sau đó cũng sử dụng biện pháp đối thoại để làm sáng tỏ các ý tưởng phức tạp của mình: Xenophon trong cuốn Symposium; Cicero trong De Oratore và De Republica (không kể cuốn Hortensius đã bị thất lạc). V.v...

 

Sau thời cổ đại, hình thức đối thoại vẫn được kế thừa tuy không còn mạnh mẽ như trước, đặc biệt trong suốt thời Trung cổ, khi gần như cả châu Âu bị sự thống trị của nền văn minh Thiên Chúa giáo. Chỉ bắt đầu từ thời Phục Hưng, tinh thần và biện pháp đối thoại mới dần dần được tái sinh; và từ đầu thế kỷ 20, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại vốn đề cao lý trí và biện luận, nó lại càng nở rộ.

 

Tuy nhiên, trên phạm vi thế giới, không có lúc nào tinh thần và biện pháp đối thoại lại bùng phát rộng rãi và mạnh mẽ như hiện nay. Có nhiều lý do, trong đó ba lý do chính: thứ nhất là ý niệm dân chủ cho phép mọi người có nhu cầu bộc lộ và bảo vệ chủ kiến riêng; thứ hai là trình độ dân trí càng lúc càng cao để mọi người – hay nhiều người – có thể theo dõi và bình luận về rất nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống; và cuối cùng, nhưng không chừng là quan trọng nhất: sự phát triển của kỹ thuật internet với những trang web, trang blog... có thể thu hút nhiều độc giả ở nhiều nơi khác nhau trong một thời gian cực kỳ nhanh chóng.

 

Đối thoại trên các trang mạng internet rõ ràng là có nhiều tính chất dân chủ hơn hẳn trên các phương tiện truyền thông đại chúng khác. Ai cũng có thể đọc. Và ai cũng có thể tham gia. Không hiếm người cảm thấy điều đó như là một sự đe doạ: nếu họ sơ suất hay hớ hênh, họ có thể bị “đập” tơi bời bởi vô số người đọc từ khắp nơi. Nhưng đó là luật chơi. Nó bắt người ta phải cẩn thận hơn và phải có ý thức hơn về trách nhiệm phát ngôn của mình.

 

Trong cách nhìn như vậy, tôi cho sự ra đời của trang Đối Thoại trên Tiền Vệ hiện nay là một việc làm đáng mừng. Trên thế giới, gần đây, người ta hay nói đến những cuộc đối thoại giữa các nền văn minh. Trong tinh hình Việt Nam hiện nay, chúng ta chỉ hy vọng có được các cuộc đối thoại giữa các quan điểm và các niềm tin. Kết quả cuối cùng của các cuộc đối thoại ấy không phải là chứng minh ai đúng ai sai mà chỉ nhắm đến việc mở ra nhiều cách nhìn khác nhau, cách tiếp cận và cách đánh giá vấn đề khác nhau.

 

Đối thoại nảy sinh từ tinh thần dân chủ và duy lý. Nó nhắm đến việc củng cố tinh thần dân chủ và duy lý.

 

Tinh thần dân chủ và duy lý không chỉ là động cơ và là mục tiêu mà còn là điều kiện để đối thoại tồn tại: thiếu chúng, người ta không còn đối thoại nữa.

 

Nói cách khác, không phải chỉ có các nhà nước chuyên chế hay ngu dân mới giết chết tinh thần đối thoại. Ngay cả các thứ văn hoá buôn dưa lê và tám chuyện cũng góp phần tàn sát đối thoại.

 

 

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=8340

20.01.2009

Hội thi bắn pháo bông quốc tế-Đà Nẵng 2009 - Cần mở rộng góc nhìn...

 

(Hoàng Minh Nhân thực hiện)

 

 

Quanh việc tổ chức hội thi bắn pháo bông quốc tế-Đà Nẵng 2009, đã có nhiều ý kiến trái ngược. Có ý kiến cho rằng đó là một chương trình độc đáo, hấp dẫn. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho là xa xỉ, phù phiếm. Nhận thấy đây cũng là dịp hay để đào xới vào các vấn đề quanh chuyện tổ chức các liên hoan với lễ hội du lịch vốn tạo nên nhiều băn khoăn về ý nghĩa và lợi ích trong dư luận xã hội lâu nay, nên chúng tôi quyết định tiếp tục đề tài này. Dưới đây là cuộc trao đổi ngắn đáng chú ý của chúng tôi với anh Nguyên Hưng, nhà phê bình mỹ thuật, giám đốc sáng tạo công ty truyền thông nghệ thuật Sông Việt, người mấy năm gần đây được biết đến nhiều hơn ở tư cách chuyên gia tư vấn truyền thông và tổ chức sự kiện du lịch... (*)

 

 

 

Có ý kiến cho rằng tổ chức hội thi bắn pháo bông quốc tế như Đà Nẵng đã và đang làm là lãng phí. Ý anh thế nào?

 

Nếu chỉ bắn “bùm bùm...” cho công chúng địa phương xem chơi thì đúng là lãng phí. Nhưng, nếu để quảng bá thương hiệu du lịch Đà Nẵng, để lôi kéo du khách đến Đà Nẵng-thúc đẩy kinh tế du lịch Đà Nẵng phát triển-thì nói lãng phí sao được!

 

Đúng là hội thi bắn pháo bông quốc tế đã làm cho tên tuổi Đà Nẵng được nhiều người biết đến. Nhưng điều đó không có nghĩa là người ta sẽ hiểu Đà Nẵng hơn, yêu Đà Nẵng hơn và muốn đến Đà Nẵng sau đó. Nếu xét như một sự kiện truyền thông, hội thi bắn pháo bông quốc tế này chỉ thể hiện sự phù phiếm, xa hoa chứ không chuyển tải bản sắc văn hóa là yếu tố cơ bản làm nên giá trị, quyết định thế đứng bền vững cho thương hiệu Đà Nẵng.

 

Đủ mới lạ, đủ hấp dẫn để lôi kéo được nhiều người đến Đà Nẵng đã là thành công của bản thân sự kiện. Còn việc người ta đã đến có muốn quay lại Đà Nẵng vào những ngày bình thường khác sau đó hay không lại là vấn đề khác. Dĩ nhiên điều này cũng nằm trong trách nhiệm của những người tổ chức, nhưng vấn đề ở chổ là do có những bất cập trong việc hoạch định mục tiêu chiến lược, dẫn đến một số bất cập trong khâu tổ chức chứ không phải do nội dung sự kiện là gì. Trong truyền thông, quảng cáo, đặc biệt ở lãnh vực du lịch, không bao giờ chỉ thông qua một sự kiện mà thành. Nó cần phải được thực hiện thành một chiến dịch với rất nhiều hoạt động phối hợp khác nữa... Sự bất cập này khá phổ biến. Ngay liên hoan du lịch Tây Sơn-Bình Định được tổ chức khá tốn kém mới đây, và rất nhiều liên hoan, lễ hội du lịch tổ chức ở nhiều địa phương khác lâu nay cũng đã mắc phải...

 

Không phải hễ bắn pháo bông là xa xỉ, là lãng phí. Hội thi bắn pháo bông thì cũng như hội thi ca nhạc. Hiệu quả hay không hiệu quả tuỳ vào tiêu chí và cách thức tổ chức. Còn “văn hóa” hay “không văn hóa” là do thông điệp mà nó chuyển tải là gì. Tổ chức hội thi bắn pháo bông quốc tế mà chỉ quan tâm đến chuyện làm sao cho khác lạ, cho thật hoành tráng thì quả đúng là phù phiếm, xa hoa. Nhưng khi đi kèm với nó là một chủ đề, một thông điệp có ý nghĩa thì vấn đề sẽ khác hẳn. Nó có thể trở thành một thứ dung môi hay xúc tác quí giá. Điều tôi tiếc cho các hội thi bắn pháo bông quốc tế ở Đà Nẵng là vấn đề này đã không được quan tâm đúng mức. Bởi vậy mà đã hạn chế ý nghĩa, lợi ích chương trình, và tạo ra các phản ứng trái chiều. Nếu làm tốt điều này, sẽ chẳng có ai có thể nói tổ chức thi bắn pháo bông quốc tế là phù phiếm, xa hoa hay lãng phí...

 

Anh có thể nói rõ hơn về những bất cập trong việc hoạch định các mục tiêu chiến lược dẫn đến những bất cập trong khâu tổ chức mà anh vừa nói là gì không?

 

Tổ chức liên hoan hay lễ hội du lịch là tạo một cái cớ để truyền thông, để lôi kéo mọi người đến địa phương vào một thời điểm nhất định. Cái cớ mà hay, mà mới lạ thì sẽ hấp dẫn được nhiều người đến. Nhưng, người ta đã đến rồi thì sao nào? Phải chuẩn bị những gì để đáp ứng nhu cầu của người ta ở tư cách du khách-những người đi ra khỏi nhà để tận hưởng niềm vui sống, để trãi nghiệm một cuộc sống khác ở môi trường khác, để khám phá những điều mới lạ?... Các nhà tổ chức, trong khá nhiều trường hợp, rất ít khi đặt mình vào vị trí của một du khách. Cho nên, ngay cả việc xây dựng những kịch bản du lịch gợi ý hai mươi bốn giờ một ngày-nên đi đâu, làm gì v.v...-cho du khách trong mấy ngày ở địa phương mình..., và tổ chức thông tin hướng dẫn thật tốt cũng đã không được quan tâm thấu đáo. Sự bất cập này dễ dẫn đến sự thất vọng hay bất mãn nơi du khách. Không có gì làm nản lòng du khách cho bằng đến đâu, muốn gì, cũng không biết hỏi ở đâu, và phải trả giá mắc hơn bình thường cho những dịch vụ bình thường. Chưa nói, nó biến việc tổ chức liên hoan với lễ hội du lịch trở thành lãng phí. Với những nền kinh tế du lịch mới phát triển như ở Việt Nam, mỗi kỳ tổ chức liên hoan hay lễ hội du lịch, bên cạnh mục tiêu quảng bá thương hiệu, hấp dẫn du khách, còn cần phải đặc biệt quan tâm đến mục tiêu liên kết các doanh nghiệp du lịch cũng như các đơn vị, doanh nghiệp có liên quan khác trong các hoạt động phối hợp nhằm tạo ra một môi trường du lịch đa dạng, thống nhất hơn..., và cả mục tiêu thúc đẩy cho sự ra đời và phát triển những sản phẩm du lịch mới nữa...

 

Liên hoan hay lễ hội du lịch không phải là một chương trình văn hóa-văn nghệ quần chúng thuần tuý chỉ có ý nghĩa truyền thông với hấp dẫn. Nó cần phải được xem là một đòn bẫy chiến lược nhằm thúc đẩy cho sự phát triển của cả nền kinh tế du lịch. Nó phải có tác dụng định hướng thị trường và kích thích khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch... Không riêng gì Đà Nẵng, rất tiếc là hiếm có địa phương nào ở Việt Nam biết sử dụng đòn bẩy này đúng cách...

 

Ở trên anh nói cần thiết phải có một chủ đề, một thông điệp phù hợp..., và có như vậy thì chương trình mới khỏi trở nên phù phiếm, mới phát huy được ý nghĩa và lợi ích. Anh có thể nói rõ hơn không?

 

 

Để đơn giản, dễ hiểu, tôi xin lấy ít chi tiết trong việc người Trung Quốc đã tổ chức Olympic Bắc Kinh như thế nào để làm ví dụ. Khi nói về Olympic Bắc Kinh, báo chí, dư luận ở ta, đa số chỉ đề cập đến chuyện sân vận động “Tổ chim” đã được xây dựng độc đáo và tốn kém như thế nào, các buổi lễ khai mạc với bế mạc do Trương Nghệ Mưu đạo diễn lạ lùng, hoành tráng ra làm sao..., và tiếp theo, chỉ là chuyện các cuộc thi đấu này nọ... Ít ai quan tâm đến chuyện người Trung Quốc đã tận dụng việc tổ chức Olympic Bắc Kinh để làm đòn bẩy chấn hưng dân khí và thúc đẩy kinh tế phát triển như thể nào. Chưa cần nói đến chuyện có rất nhiều cơ sở, trung tâm văn hóa, kinh tế mới được được xây dựng và có cơ hội phát triển, cũng như có rất nhiều chương trình văn hóa-giáo dục vận động công chúng được tổ chức ra làm sao..., chỉ riêng việc người ta đưa ra câu khẩu hiệu “Một thế giới, một ước mơ” với mẫu logo và năm biểu tượng “Cát tường” rồi diễn giải, rồi ứng dụng dưới mọi hình thức có thể, phổ biến ra khắp mọi nơi như vậy..., chúng ta đã thấy có vô số điều cần phải học. Nó không chỉ có tác dụng truyền thông, tác dụng giáo dục mà khi được thể hiện qua hình hài các vật phẩm lưu niệm nó trở thành các sản phẩm bán được... Có lẽ tôi không cần phải phân tích các lợi ích đa cấp, đa chiều từ việc làm này...!

 

Tại sao không đặt cho hội thi bắn pháo bông quốc tế này một chủ đề nào đó thể hiện các ước mơ hay lý tưởng của người dân Đà Nẵng (người dân Việt Nam nói chung) thuyết phục hơn, mà cứ là “Vũ điệu Tiên Sa” vừa điệu đàng vừa sáo rỗng như vậy? Rồi tại sao không từ chủ đề đó, thiết kế cho nó một mẫu logo, một hệ thống biểu tượng vui giàu tính khái quát-thể hiện bản sắc văn hóa địa phương-rồi phổ biến, rồi ứng dụng ra khắp mọi nơi... như người ta vẫn làm? Nên nhớ, hàng mỹ nghệ chỉ có thể trở thành hàng lưu niệm khi đàng sau nó có những câu chuyện độc đáo mang sắc thái địa phương. Khi quan tâm đến chuyện này, chúng ta có thể tạo ra được một tiền đề quan trọng để thúc đẩy cho việc sản xuất và kinh doanh vật phẩm lưu niệm ở địa phương phát triển. Tạo thêm công ăn việc làm là chuyện. Đó cũng là đóng góp tạo ra những “ký hiệu văn hóa mới” làm giàu diện mạo văn hóa địa phương.

 

Nói đến đây thì tôi cũng phải xin ghi chú lại: thực ra cũng không riêng gì Đà Nẵng với hội thi bắn pháo bông quốc tế. Tôi chưa thấy địa phương nào trên cả nước tổ chức liên hoan hay lễ hội du lịch mà quan tâm đến chuyện này đến nơi đến chốn. Ngay cả Hà Nội với đại lễ kỷ niệm “Ngàn năm Thăng Long”...

 

 

Nói như anh, để tổ chức một liên hoan hay lễ hội du lịch, người ta cần phải sáng tạo thích ứng trên nền tảng một nhãn quan chiến lược sâu rộng với thật nhiều tâm huyết, và cần phải nương tựa trên sự hiểu biết sâu sắc thực tiễn văn hóa-kinh tế-xã hội địa phương. Vậy, chúng ta hy vọng được gì khi trao trọn gói cho một đối tác nước ngoài thay ta như Đà Nẵng đã làm với hội thi bắn pháo bông quốc tế sắp tới?

 

Tôi không biết Đà Nẵng thuê đối tác nước ngoài làm những phần việc gì. Riêng tôi, tôi cho rằng đối tác nước ngoài nào thì cũng chỉ làm được các phần việc sự vụ mà thôi. Họ có thể tổ chức hội thi bắn pháo bông quốc tế thành một chương trình trình diễn ngoạn mục, nhưng chờ họ thay ta trong việc hoạch định chiến lược tổng thể cho toàn bộ sự kiện với các hoạt động phối hợp và gia tăng giá trị v.v... thì thực tế là điều không tưởng, sai lầm. Có thể lãnh đạo thành phố Đà nẵng chưa quan tâm đến điều này?

 

Tôi không phản đối việc Đà Nẵng thuê công ty nước ngoài chăm lo mọi chuyện của hội thi. Xét đến cùng thì trong nước cũng khó kiếm được công ty nào có thể quán xuyến được một chương trình như vậy thật hoàn hảo. Điều tôi quan tâm và muốn lưu ý là liệu Đà Nẵng có một “bộ não chiến lược” và có một bộ máy điều hành các hoạt động phối hợp tốt để khai thác, tận dụng hết các khả năng và thành quả từ chương trình sự kiện “hoàn hảo” như mong muốn này không?

 

Tôi nghĩ, giá như Đà Nẵng đề ra các mục tiêu rõ ràng rồi tổ chức đấu thầu tổ chức thì có lẽ sẽ hay hơn.

 

Nghĩ vậy, nói vậy thôi, chứ tôi cũng chưa thấy địa phương nào tổ chức đấu thầu tổ chức các sự kiện như vậy cả!

 

Xin cảm ơn anh

 

 

 

 

(*) Nguyên Hưng là người chịu trách nhiệm thiết kế trang trí và tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật phục vụ Hội nghị các bộ trưởng du lịch APEC ở Hội An năm 2006, tác giả của nhiều sự kiện du lịch độc đáo ở Hội An trong vòng ba năm qua (chương trình vẽ graffiti giữa dòng sông Hoài cuối năm 2006, chương trình vẽ trang trí dù đầu năm 2007...), và là tác giả chương trình nghệ thuật cộng đồng “Khám phá nghệ thuật Tuồng” đang được xem là hết sức độc đáo và có thể mang lại lợi ích nhiều mặt chuẩn bị triển khai ở Đà Nẵng đầu tháng 12-2008...

 

 

 

“Khám phá nghệ thuật tuồng”

Nguyên Hưng

 

 

Trước tiên, cn thay đi cách nghĩ...



Nét đ
c sc ca mt nếp sinh hot văn hoá là mt trong vài yếu t chính đ biến mt đa phương thành mt trung tâm du lch. Bi vy, d án ngh thut cng đng “Khám phá ngh thut tung” nhm đến hai mc tiêu: nó không ch góp phn bo tn ngh thut tung hiu qu hơn, mà còn có th góp phn vào vic qung bá hình nh đa phương, thúc đy du lch đa phương phát trin.

Tuy nhiên, vi
c vn đng cho d án này không phi là điu d. Ngoi tr vi nhng người lâu năm gn bó vi tung, còn li, phn ln đu dng dưng hoc bế tc: “Tung à? Biết ri! Mun gì thì cũng phi din hay cái đã!...” Hay: “Bo tn tung à? Bn tôi đã xây nhà hát to ri! đã làm nhiu vic ri! hiu qu thế thôi! Có c cũng chng hơn gì đâu!...” v.v... và v.v...

Th
t ra, có hai đim chúng ta cn lưu ý: Th nht, trên thc tế, có khi điu chúng ta tưởng chng đã biết “đ”, không thèm nghĩ thêm gì na, nhưng thc ra, là chng biết gì c. Và đã hng chu đ th hu qu vi h ly t s bt cp đó... Th hai, cũng xin lưu ý rng, thc tế, có khi điu chúng ta làm không hiu qu, người khác, ch cn làm khác đi mt chút, hiu qu đã khác. Không ng...

V
lưu ý th nht, đ khi dông dài, tôi xin nêu ví d: cun v hc sinh. V hc sinh đang có, như đã thy, ai cũng bình thn mua v cho con em dùng; các thy cô giáo trường cũng không băn khoăn gì; thm chí, các chuyên gia B Giáo dc hình như cũng vy... Nhưng phi chăng, quanh cun v hc sinh ca chúng ta là không có vn đ gì đ suy xét? Tht ra có. Có rt nhiu vn đ. Hãy th ln theo cách phân tích t đnh nghĩa cơ bn “V hc sinh là gì?” này, hn s thy, cun v hc sinh mà các em đang dùng hàng ngày, cũng cha nhiu “n ha” như thế nào: Mt, v “là đ viết”. Viết, là đng đến tương quan gia ngòi viết và mt giy. Mt giy quá láng: không ăn mc. Mt giy quá ráp: mau mài mòn ngòi viết. Mt giy quá xp: lem... Đnh nghĩa này dn đến yêu cu th nht: v hc sinh phi thun li cho vic viết. Hai, v “là đ đc li cái đã được viết”. Mà đc, là đng đến tương quan gia mt vi mt giy. Mt đc được ch trên mt giy là nh vào ánh sáng. Nhưng, ánh sáng đp vào mt giy thì s có phn x. Các tia phn x di thng vào mt có th gây tn hi thn kinh th giác dn đến cn th, lon th v.v... Thc tế này đưa ra yêu cu: mt giy phi gim thiu được các tia phn x. Như vy, v nguyên tc, mt giy v hc sinh (sách v nói chung) phi không được quá trng, quá láng... Ba, v “tn ti trong môi trường tp v”-mt người đi hc, thường, có rt nhiu v. Nhiu, nên có nhu cu phân loi. Đ vic phân loi d dàng, rt cn đến “màu báo hiu”-màu đ là tp toán, màu xanh là tp lý v.v... Như vy, mt ram v dành cho hc sinh, phi đóng vi nhiu màu bìa khác nhau... Bn, v “gn gũi vi người đi hc và hin din trong môi trường hc đường”. Trong môi trường tp th đó, v ca người này, có th nh hưởng đến người khác. Vic in hình nh trang trí ly t phim nh, truyn tranh như Đô-rê-mon, như Hoàng Châu Cách Cách, như Siêu Nhân này n... có th là nguyên c cho s phân tán tâm lý nơi các em. Quan trng hơn, vic in nh lên bìa, trước yêu cu cht lượng hình nh khác nhau (cho bt mt), dn đến giá thành cun v khác nhau, mt cách vô tình, đã kích hot cho nhng mc cm phân bit giàu nghèo... là điu ti k trong môi trường hc đường v.v...

Đ
y! Vn đ tưởng như không có gì phi nghĩ li na, nhưng nếu nhìn k li như trên, hn thy, ch qua mt cun v hc sinh thôi, chúng ta đã mc không ít sai lm. Hu qu như thế nào, có l không cn nói na...

V
lưu ý th hai, cũng đ khi dông dài, tôi xin k chuyn. Câu chuyn nhp môn cho nhng ai bt đu hc làm s kin hay truyn thông: Trên mt góc ph Luân Đôn, có mt người mù ăn xin. Hàng ngày, ông ta ra đó ngi, ăn mc dơ dáy, râu ria xm xoàm, tc tai bù xù, dáng v thm thương và không ngường kêu than. Khách b hành đi qua, thnh thong có người dng li, thy vào nón cho ông ta vài đng tin cc... Mt hôm, có mt người đàn ông đến, sau mt hi quan sát, ngi xung bên cnh ông ta và nói: “Tôi không cho ông tin. Tôi cho ông kh năng kiếm tin nhiu hơn. Vi điu kin, ông phi nghe li tôi. Hôm nay v, ông ct tóc, co râu cho gn gàng. Ngày mai ra đây, phi ăn mc đàng hoàng, ngi ngay ngn, không kêu than gì c. Tôi s thay cho ông câu cu xin phía trước bng mt câu khác. Tôi bo đm, mi người s cho ông nhiu tin hơn...”. Người ăn xin bán tín bán nghi, nhưng sau khi biết k khuyên mình là mt tên tui lng ly trong gii qung cáo nên đã nghe li. Y như rng, ngày hôm sau, người đi qua đã cho tin nhiu hơn. Không ch cho tin cc mà c tin giy. Không phi vt tin xung mà cúi xung b tin vào nón t tế... Quá ngc nhiên nên trước khi v, khi người cui cùng cúi xung b tin vào mũ, người đàn ông ăn xin kia đã hi: “Này ngài, xin ngài đc giùm tôi cái câu cu xin phía trước viết gì vy?”... Hai câu,cũ/mi,khác nhau thế này: cũ, “Hãy thương xót k khn cùng này!”; mi, “Tôi mun nhìn thy ánh sáng mt tri!”. Bây gi hãy th phân tích: Mt người mù đi ăn xin là chuyn bình thường. Mt người đi ăn xin to dáng v thm thương đ đánh đng lòng thương hi ca người khác cũng là chuyn bình thường. Và, người khác, b thí cho nhng người thm thương như thế cũng là chuyn bình thường. H cho mà không nghĩ ngi, không xúc đng gì c... Nhưng, mt người mù ăn xin, li có dáng v đy t trng, là chuyn khác thường. Và, khi mt người mù ăn xin, không phi đ sng qua ngày, mà đ cha lành đôi mt, đ nhìn thy được như mi người, là chuyn khác thường. Trước hình nh mt con người như vy, người ta cho tin, không phi b thí na, mà như mt hành đng chia s. Bài hc đây là: Cũng là mt s kin, nhưng cách din dch khác nhau, s dn đến nhng hiu qu hoàn toàn khác nhau... tr li vi nguyên c khiến tôi phi viết mu chuyn lưu ý này: Đúng là chúng ta đã làm nhiu vic, nhưng không mang li hiu qu như mong mun. Không mang li hiu qu như mong mun, không có nghĩa là hết cách. Đơn gin, ch vì chúng ta đã làm mt cách thô thin. Quan trng là phi biết lng nghe...

v.v... và v.v...

Trong bài ti
ếp theo, tôi s đ cp đến chuyn chúng ta đã nhìn nhn Tung như thế nào và đã làm gì vi tung.



M
t cách nhìn khác...



Tu
ng, xét như mt th loi sân khu, đã lc hu. Trong ngh thut, th loi nào cũng mang tính lch s. Vic bo tn tung, theo kiu kéo dài s sng cho mt th loi ngh thut, do đó, là điu không tưởng. Bao nhiêu năm qua, đã có rt nhiu n lc cách tân tung, hin đi hóa tung... nhưng c thy, đu đã tht bi. Tung không chuyên ch được các vn đ