24.02.2013

Loạt bài về “Xã hội dân sự” của Nguyễn Hưng Quốc

Loạt này, tổng cộng gồm 9 bài, TS Nguyễn Hưng Quốc đã đăng trên VOA. Tôi tập hợp trong file words này, để ai quan tâm, tiện theo dõi...

 

Download: Loạt bài về xã hội dân sự.docx

14.02.2013

Vài ghi chú về “NHẪN”- tác phẩm sắp đặt quần lót, thuyền giấy...- của Lê Quốc Thành

Ngày 01 tháng 01 năm 2013, từ 6 giờ đến 8 giờ tối, tại Mai's gallery-3A Tôn Đức Thắng, Q. 1, TP HCM-họa sĩ Lê Quốc Thành đã ra mắt tác phẩm sắp đặt chào năm mới của mình.

 

nguyên hưng

 

I. VỀ HÌNH THỨC:

 

Tác phẩm là một bức màn lớn che kín một mặt tường phòng tranh (~3m x 5m) với chữ "NHẪN" viết bằng chữ Hán ở giữa. Tất cả, được kết bằng gần 1.000 chiếc quần lót của phụ nữ. Nhìn tổng thể, qua cách phối màu, bố cục, bức màn trông giống như một cái phông sân khấu Hát Bội...!

Phía trước, ngay dưới chân bức màn, là mấy trăm chiếc thuyền nhỏ được gấp bằng giấy. Trong đó, có một số lớn hơn, được gấp bằng giấy báo. Điểm đặc biệt đáng chú ý, là trong khi các chiếc thuyền nhỏ gấp bằng giấy màu được để ngửa, thì những chiếc thuyền lớn, gấp bằng giấy báo, lại bị lật úp...!

nguyên hưng

Phía trước những chiếc thuyền giấy, là hàng chục chiếc đèn cầy màu đỏ thắp sáng, chen lẫn giữa những cuộn giấy vệ sinh...!

nguyên hưng

Trong buổi ra mắt, như một "thư pháp gia", họa sĩ Lê Quốc Thành ngồi xếp bằng giữa những chiếc thuyền giấy, viết chữ "NHẪN" đúng theo Hán tự tặng quan khách. Ai cũng phải thừa nhận họa sĩ Lê Quốc Thành viết rất đẹp! Điểm đặc biệt đáng chú ý, là những tác phẩm thư pháp này, không được viết trên giấy dó, giấy xuyến chỉ như thường thấy, mà trên giấy vệ sinh-dùng ở bàn ăn và dùng ở nhà cầu...!



II. VỀ Ý NGHĨA:

  

Tác phẩm của Lê Quốc Thành, từ cái tên cho đến hình thức như đã có, đã có tác động gây sốc.

nguyên hưng


Những hình ảnh đầu tiên của tác phẩm, khi đưa lên Facebook trước giờ ra mắt, ngay tức khắc, đã thu hút được sự chú ý của nhiều người. Và, ngay trong buổi ra mắt, mọi người đã phải xôn xao bàn tán...


Trước hết, nó làm sống dậy ý thức về chữ "Nhẫn" 

 

Nhiều người cho "Nhẫn" là một "triết lý sống" cần được "tôn thờ", một "giá trị văn hóa truyền thống" cần được bảo tồn, phát triển. Lý lẽ họ đưa ra: "Nhẫn" là nguồn gốc, là nền tảng của "Hòa"; có "Nhẫn" thì mới có hòa hợp, hòa bình...!

Nhiều người khác, ngược lại, cho "Nhẫn" chỉ là tàn dư của chế độ phong kiến-phụ hệ, là sản phẩm của thứ "văn hóa làng", lấy gia đình làm trung tâm, lấn át con người cá nhân, đã quá lạc hậu. Thậm chí, đã trở thành "phản động". Lý lẽ họ đưa ra: "Nhẫn" là nguồn gốc của thỏa hiệp, phản tiến bộ. Tại sao không thẳng thắn đối thoại mà phải "nhẫn"?

Tiếp theo, nó kích thích cho một sự nghĩ lại về ý nghĩa của chữ "Nhẫn" trong nhận thức và trong đời sống thực tế...

 

nguyên hưng

Có người đặt vấn đề ở khía cạnh hiện tượng: "Dân ta gần chục năm nay, rộ lên phong trào suy tôn chữ "Nhẫn". Đi đâu cũng thấy chữ "Nhẫn", ngồi đâu cũng nghe nói đến chữ "Nhẫn"...Nếu xã hội bình thường, ổn định, công bằng chắc người ta đã chẳng phải nhắc nhau phải "Nhẫn" như thế! Càng tôn vinh chữ "Nhẫn", do đó, càng thấy là trong xã hội đang có sự rối ren, cạn kiệt niềm tin!"

 

Và, cũng người này, đã đưa ra nhận định: ""Nhẫn" có thể là biểu hiện bên ngoài của "dũng", nhưng cũng có thể là biểu hiện bên ngoài của "hèn". "Nhẫn" hiểu theo nghĩa "cái tâm kiên định", hay "hành xử theo lương tri", "ẩn mình trong hang cọp"... là cái "nhẫn" của kẻ "dũng"; nhưng "nhẫn" hiểu theo nghĩa né tránh hiểm nguy, cốt lo lấy thân, bất kể thời thế, bất chấp bổn phận làm người thì chỉ là ương hèn... Muốn xét "nhẫn-dũng" hay "nhẫn-hèn" thì phải xét trên quan hệ, phải qui về thời thế. Bây giờ, mà bắt phụ nữ phải "nhẫn" khi đàn ông buông tuồng là bất công, bắt dân phải "nhẫn" khi quan ngồi trên câu kết với nhau tham ô, lũng đoạn, làm nghèo yếu đất nước... thì là quá vô lý, bắt một đất nước phải "nhẫn" theo một chế độ trước họa xâm lăng thì là... trái với đạo trời!"...


Tiếp theo nữa, không chỉ làm sống dậy ý thức về chữ "Nhẫn" hay kích thích cho một sự nghĩ lại về ý nghĩa của chữ "Nhẫn" trong nhận thức và trong đời sống thực tế, mà, một cách "quyết liệt", nó kéo mọi người đối diện với những vẫn đề "đang là nóng hổi" của thực tại...

 

Tác phẩm đã được "sắp đặt" như một cái gì hết sức trớ trêu. Như một nghịch lý. Và người xem, có lẽ hầu hết, đều dễ dàng nhận ra ý nghĩa.

 

Có người cho tác phẩm, dường như, có một mối liên hệ nào đó với bài thuyết giảng của ông Đại tá Trần Quang Thanh với "lý thuyết nhẫn nhịn" và "lý thuyết sổ hưu trí" mà lâu nay, cư dân mạng trong và ngoài nước đã lên tiếng phê phán rất nhiều... Nó như một sự bỡn cợt!

 

Có người đã phát biểu: "Ý tưởng chữ "nhẫn" làm bằng quần lót thật thú vị, và đậm tính thời cuộc. Lại thêm, tàu thuyền và những ngọn nến tưởng niệm. Lại thêm, dúng ngay vào ngày 01/01/2013, ngày đạo luật lục soát tàu thuyền ở Biển Đông của bon Khựa bắt đầu có hiệu lực...!

 

Có người chú ý đến những chiếc thuyền lớn gấp bằng nhật báo trong nước bị lật úp dưới bức màn có chữ "nhẫn" kết bằng gần 1.000 chiếc quần lót đó. Và, cho đó là một sự mỉa mai...!

nguyên hưng

 

Sự xuất hiện của những chiếc áo "No U" từ người xem, một cách bất ngờ, đã góp phần làm cho ý nghĩa tác phẩm trở nên cô đọng. Nó như một sự tương tác, làm "nóng" tác phẩm...!


Và, tác phẩm đã trở nên nóng thật.

 

Nó đã làm cho một số người... sợ hãi.

 

Đồng thời, cũng đã làm cho một số người khác, trở nên mạnh mẽ hơn.

 

*

 

Trong khi phần lớn nghệ sĩ thị giác Việt Nam né tránh các vấn đề chính trị-xã hội trong nước, theo tôi, một thái độ trực diện, thẳng thắn, và dõng dac như thế này, tự nó, đã là điều đáng để khâm phục, trân trọng...!

  

(Còn nhiều điều để bàn luận về tác phẩm này. Trên đây, chỉ là vài ghi chú theo kiểu "sổ tay".)

 

 

Nguyên Hưng 


.

17.06.2012

Từ chuyện võ đến chuyện vẽ-5 : học vẽ hình như học đi quyền.

Người học vẽ, học vẽ hình, như người học võ học đi quyền. Gần như hầu hết các môn võ, đều được cô đúc lại trong một số bài quyền(*)-phân cấp từ dễ đến khó, từ thấp lên cao… Một người đi học võ, thông thạo hết các bài quyền của môn võ theo học thì được xem là người BIẾT VÕ. Tuy nhiên, từ BIẾT VÕ đến CÓ VÕ, là một chặng, nhiều khi rất ngắn, nhưng không dễ vượt qua. Nhiều người đi quyền rất đẹp-linh hoạt, biến ảo hay dũng mãnh v.v…-nhưng chỉ thế thôi. Cái quyền pháp mà họ thủ đắc, cùng lắm, chỉ để biểu diễn tại sân tập (võ), trên sân khấu, hay ở các gánh “Sơn Đông mãi võ”…! Chỉ có những người bóc tách được từ những bài quyền cơ bản đó những đòn, những thế tạo thành những chiêu thức riêng phù hợp với cơ địa của mình, và có khả năng biến báo theo tình huống-tùy theo đối thủ, hoàn cảnh và mục tiêu-thì mới có thể được xem là “dụng được võ”-CÓ VÕ.

 

Trong lĩnh vực hội họa cũng vậy, nhiều người vẽ hình rất giỏi-cũng sống động, điệu nghệ…-nhưng tác phẩm của họ, cùng lắm, chỉ có thể là những bài tập mẫu dành cho sinh viên mỹ thuật ở bước đầu học vẽ…

 

Nói chung, giỏi vẽ hình, chỉ mới là chuyện kỹ năng-một điều kiện cần (biết vẽ) chứ chưa đủ, để tạo thành một họa sĩ. Chỉ khi rút tỉa được từ các bài học vẽ hình, các khả năng biểu ý, biểu cảm của các thành tố tạo hình-đường nét, hình diện, các khoảng trống v.v…-và, có khả năng điều phối các đương lượng tạo hình nhằm chinh phục một ấn tượng, một ý thức thẩm mỹ nào đó trước một đối tượng thẩm mỹ nào đó, hướng đến một lý tưởng thẩm mỹ  nào đó v.v… thì người học vẽ, may ra, mới có thể được gọi là biết dụng ngôn ngữ hội họa-một họa sĩ.

 

Cuộc “chiến đấu” của người họa sĩ, là cuộc chiến đấu nhằm chinh phục một đối tượng thẩm mỹ, một ấn tượng thẩm mỹ, một ý thức thẩm mỹ, một lý tưởng thẩm mỹ… nào đó. Tầm vóc của người họa sĩ, do đó, tùy thuộc vào ý nghĩa và tầm vóc của cuộc chiến đấu này…

 

Trong võ nghệ, sau bao công phu luyện tập, nhiều khi chỉ bằng một cú đấm, thậm chí chỉ một cái búng tay, người võ sĩ cũng đã có thể hạ gục đối thủ. Trong hội họa cũng vậy, sau bao công phu rèn luyện, nhiều khi chỉ cần một nhát cọ, một vệt màu, người họa sĩ cũng đã có thể tạo thành một tác phẩm nghệ thuật bất hủ…

 

Và khi hiểu, cuộc “chiến đấu” của người họa sĩ là cuộc chiến đấu mang tính chinh phục như vậy, thì chúng ta cũng sẽ thấy dễ hiểu tại sao, có những họa sĩ, cấp thời, rất được hoan nghênh, nhưng rồi bị thời gian đào thải ngay, và ngược lại,  trong thực tế, có những họa sĩ "thất bại", nhưng họ vẫn cứ được xem là một họa sĩ vĩ đại-đó là trường hợp của những kẻ khai phá: xác định những những đối tượng thẩm mỹ mới, hướng tới những lý tưởng thẩm mỹ mới với những phương thức tư duy mới…!

 

 

 

Nguyên Hưng

 

(*) Xin lưu ý: Có một số võ phái không đúc kết "tinh hoa" trong những bài quyền mà thể hiện tập trung trong một số đòn, thế cơ bản. Trong hội họa, cũng có những khuynh hướng chẳng quan tâm gì đến chuyện "hình họa"-hiểu theo nghĩa "vẽ đúng", mà bắt đầu ngay bằng mộ số kỹ pháp cơ bản... Tôi sẽ đề cập đến vấn đề này, trong bài tiếp theo:

Từ chuyện võ đến chuyện vẽ-6: Chuyện "đòn, thế" trong hội họa.



24.03.2012

Vài ghi chú về "Đời ốc" của Phương Quốc Trí

Cho dù thừa nhận Phương Quốc Trí là một trong số hiếm hoi họa sĩ vẽ chân dung thuộc hàng xuất sắc ở Sài Gòn, và thực sự yêu quí tính cách của Trí, nhưng tôi chưa bao giờ xem Trí là đối tượng cho các khảo sát nghệ thuật của mình. Lý do hết sức đơn giản: tuy kỹ năng vững vàng, tranh đẹp (hiểu theo nghĩa cân bằng thị giác), và có giá trị biểu cảm (gợi cảm xúc xao động, u uất hay giằng xé...), nhưng ở Trí, căn bản, vẫn thiếu một cách nhìn riêng. Cái nền tảng mỹ học ẩn đàng sau cách nhìn nghệ thuật của Trí (có thể Trí không ý thức), thực sự, đã là lối mòn, cũ kỹ... Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng tranh của Trí chịu ảnh hưởng hay giống tranh của người này người kia. (Cũng cần lưu ý: chịu ảnh hưởng, hay giống, không có nghĩa là "ăn cắp" hay "bắt chước" như có vài người vội vàng-một cách hung hăng-qui chụp lên Trí. Với kỹ thuật và cách nhìn nghệ thuật như thế, sự trùng lặp là điều khó tránh khỏi!)

 

Phương Quốc Trí

Tranh chân dung của Phương Quốc Trí

Có lẽ Trí cũng nhận biết điều đó. Có thể nhận thấy sự bất an nơi Trí. Tuy tranh vẽ ra "bán chạy như tôm tươi" (như có người nói), có nhiều tiền, nhưng Trí lúc nào cũng buồn, cũng muốn làm gì đó khác hơn, mới hơn. Và loay hoay. Tôi yêu quí Trí bởi cái sự bất an, sự buồn và sự loay hoay này... Nhưng tôi cũng ái ngại cho Trí. Ái ngại, bởi cũng dễ thấy, cuộc sống của Trí có quá nhiều gánh nặng, cũng có những hạn chế nhất định về mặt nhận thức... Mà môi trường kinh tế xã hội và văn hóa ở Việt Nam lại quá bất thường, chẳng dễ dàng gì cho mọi đổi thay! Thỉnh thoảng ngồi quán cafe' bù khú, tôi cũng không dám nói nhiều với Trí về chuyện nghệ thuật. "Muốn nhanh thì phải từ từ!"-thường, chỉ nói với Trí thế thôi!. Với tôi, họa sĩ vẽ tranh hàng loạt để bán, vẽ tranh nuột nà để tán gái, hay gì gì nữa... xét đến cùng, cũng đều chính đáng như nhau. Quan trọng là đừng xạo xự đánh lận con đen...!

 

...

 

Trước khai mạc triển lãm "Đời ốc" hai ngày, Trí mời tôi đến xem. Tôi không biết Trí muốn nhờ tôi góp ý, hay muốn tôi xem trước để viết lời giới thiệu. Nhưng hôm đó, xem qua một vòng, tôi đã phải nói ngay với Trí: "Chẳng có gì để nói đâu. Một, là nó chẳng có gì mới mẻ-hình ảnh động vật phóng to hay thu nhỏ, bôi màu các kiểu, bài trí các kiểu thiên hạ làm nhiều lắm rồi!; hai, là nó quá đơn giản, thậm chí thô thiển-chỉ với một sọt ốc nhuộm cùng một màu đỏ, có vài con như cố bò ra ngoài để lại một vệt màu dài phía sau... mà để người xem chấp nhận rằng đó là chuyện "Đời ốc" thì e rằng hơi hoang tưởng. Cho dù có giải thích như thơ rằng, ốc là biểu tượng cho thân phận nhỏ nhoi, hèn yếu, và hơn thế nữa còn bị nhuộm màu đồng dạng v.v... thì thực ra cũng chỉ là xảo biện!; ba, ngay cả khi bỏ qua các suy tưởng chủ đề, chỉ nhìn ở khía cạnh tạo hình và cách bài trí thì cũng chẳng có ấn tượng gì đáng kể-nó chỉ là đèm đẹp theo kiểu trang trí đơn thuần!..."  

 

Phương Quốc Trí

Từ gallery của Trí đi về, tôi nghĩ, Trí hơi vội, đang làm cái việc không phù hợp với mình!. Lê Quốc Thành đi cùng với tôi, sau đó, cũng có nhận xét tương tự!

 

...

 

Hôm khai mạc, tôi đến. Chủ yếu cho vui, và để gặp vài người bình thường khó gặp. Tôi không nghĩ, sẽ có ấn tượng hay cảm nghĩ gì khác hơn về tác phẩm của Trí.

 

Nhưng bước vô phòng triển lãm, tôi cảm thấy chợn trong lòng. Một cảm giác hết sức khác lạ.

 

Hai hôm sau, tôi quay lại phòng triển lãm một mình. Cũng có cảm giác như vậy!

 

Trí đã thêm vào một vòng tròn, cũng sơn màu đỏ, treo lơ lửng trên sọt ốc. Chính sự có mặt của cái vòng tròn lạ lẫm này đã khiến cho tác phẩm trở nên khác lạ: vừa mở rộng không gian khiến tác phẩm trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát hơn, vừa khiến cho nội dung tác phẩm cũng được mở rộng, trở nên "mơ hồ" hơn, do đó, mà gợi ra nhiều liên tưởng, nhiều cảm nhận khác nhau hơn...


Phương Quốc Trí


Cái vòng tròn đỏ lơ lủng này có nghĩa là gì? Mỗi người có thể sẽ hiểu cách riêng. Nhưng dù có hiểu như thế nào, thì có lẽ, cũng dễ đồng ý, nhờ nó mà cái sọt ốc đỏ kia không còn là một khối lù lù trơ trụi. Nó đã mở ra một không gian. và, tự nó là một điểm qui chiếu gợi cảm, gợi tưởng... Nó có thể là mặt trời! Mặt trời hiện diện để "chứng thực" cho những "đời ốc" bên dưới, cho những "đời ốc" đó một bầu không khí để sống-như vẫn thế!

 

*

 

Phòng triển lãm của Trí gồm có 2 gian. Gian ngoài là tác phẩm vừa nói. Còn gian trong, tuy vẫn là ốc-những con ốc đang bò và những vỏ ốc vỡ vụn-nhưng tất cả đều được phủ một màu trắng xóa...

540556_301836933217395_100001732729779_694210_1058710045_n.jpg

Phương Quốc Trí

Phương Quốc Trí

Khi tôi xem lần đầu, gian này chưa được trưng bày xong. Nhìn từng tác phẩm có ảnh ở trên như là những tác phẩm độc lập tôi đã chẳng có ấn tượng gì đáng kể. Tuy có chút cảm nhận về sự hư huyễn, phù du... nhưng tất cả, đều rất yếu ớt, mờ nhạt...!

 

Lần xem sau khác nhiều. Trí đã đổi vài mảng tường sang màu đen, và chỉ tập trung chiếu sáng vào từng tác phẩm một. Sự thay đổi màu tường cũng như cách phối sáng này cũng gây bất ngờ tương tự như việc Trí thêm cái vòng màu đỏ trên sọt ốc đỏ ở gian ngoài. Nó đã biến cả gian phòng từ một không gian trưng bày trung tính trở thành một không gian mang tính hình tượng nối kết các tác phẩm đơn lẻ lại trong một chỉnh thể biểu ý, biểu xúc mạnh mẽ... Cả gian không còn chỉ là nơi trưng bày các tác phẩm đơn lẻ nữa, mà chính nó đã là một tác phẩm hoàn chỉnh!

Phương Quốc Trí


Phương Quốc Trí


Hai gian triển lãm, cũng chỉ là một câu chuyện "Đời ốc", nhưng có hai sắc thái khác nhau. Gian ngoài, với hình thức như đang có, là "Đời ốc" trong thế giới hiện tượng được nhìn thấy. Đó là thế giới xô bồ xô bộn và nóng hổi của những khát vọng và nổ lực...! Còn ở gian trong, với hình thức như đang có, là "Đời ốc" được suy ngẫm trong tâm tưởng. Đó là cõi mông lung thực, hư lẫn lộn... Đó là thế giới của những nổi niềm, của những ưu tư...

 

*

 

Xem lại "Đời ốc", nghĩ kỹ hơn về "Đời ốc", và như những gì thấy được vừa nói, tôi buộc lòng phải nghĩ lại về Phương Quốc Trí. 

 

Với tác phẩm này, Trí thực sự là mình trong sự giao lưu mang tính nội tại. Nói cách khác, Trí đã lộn trái được chính mình như một nghệ sĩ chân chính.

 

*

 

"Đời ốc" của Phương Quốc Trí thực sự xứng đáng cho một tiểu luận phân tích, diễn dịch thấu đáo hơn. Tiếc là tôi không có nhiều thời gian dành cho việc này. Thôi thì tạm ghi chú như vậy, mai mốt rảnh rỗi hẳn hay!

 

 

 

Nguyên Hưng


.

04.01.2012

Về "Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ", và...

Tôi viết bài này vì 2 lý do: một, để trả lời một lần cho xong thắc mắc của một số bạn là tại sao tôi đã viết bài "Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ" ký tên "Người muốn thành nghệ sĩ" và đứng ở danh nghĩa một "sinh viên mỹ thuật; hai, là để công bố thư hồi âm của Mai Chi. 


Trước khi lần lượt đi vào từng phần, tôi xin ghi chú đôi dòng về thư hồi âm của Mai Chi: Thư hồi âm của Mai Chi là thư gởi riêng. (Có thể, anh có những lý do tế nhị để không công bố công khai thư này trên Soi.). Tôn trọng cá nhân Mai Chi, đáng lý ra, tôi không công bố thư này. Nhưng, bởi đây là một lá thư rất hay, đặc biệt, là rất có ích cho những ai quan tâm đến mỹ thuật, nhất là các sinh viên mỹ thuật..., nên tôi đã phải cân nhắc. Tôi quyết định công bố. Điều này có thể cấp thời làm Mai Chi phật lòng, nhưng tôi hy vọng anh sẽ hiểu và thông cảm...!

 

 

1. Bài  "Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ" ký tên "Người muốn thành nghệ sĩ" và đứng ở danh nghĩa một "sinh viên mỹ thuật" của tôi, sau khi công bố đã tạo nên một vụ lùm xùm với những màn "đấu tố"-"bỏ bóng đá người"-trên Soi (http://soi.com.vn/?p=51507), và những điều tiếng-kể cả "gầm gừ"-ở khắp các "vỉa hè" làng mỹ thuật, cho đến bây giờ!

 

Vài người xem đây là một "sự kiện bất thường".

 

Sự thực, nếu đừng để những toan tính cá nhân dẫn đến sự chi phối của những phỏng đoán về mưu đồ này nọ, và đừng để cho tâm lý phe cánh che mắt..., bất cứ ai cũng dễ dàng nhận thấy, chẳng có gì "bất thường" ở đây cả.

 

Thứ nhất, có thể hỏi ngược lại, những vấn đề nêu trong "Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ" có CHÍNH ĐÁNG hay không? Có CƠ SỞ HIỆN THỰC hay không? Thực ra, tôi đã chẳng bỏ công viết bài này nếu không có vài cái mail đầy bức xức gởi cho tôi của vài bạn đang học bên trường Mỹ thuật TP HCM... (***Xin đọc lại bài này ở dưới)

 

Thứ hai, có thể hỏi ngược lại, tại sao tôi lại không thể đặt mình vào vị trí của một sinh viên mỹ thuật để "đặt vấn đề" với những chuyện có liên quan đến họ? Chúng ta đã biết, sự "thần tượng hóa" và truyền thông, nếu không có tác dụng khai phóng sẽ có tác dụng tha hóa. Bởi vậy, nó cần được phê bình. Cung cách truyền thông "đánh lộn sòng" giá trị thương mại với giá trị nghệ thuật, những "trò mèo" giật dây dư luận của những liên minh họa sĩ-curator-gallery-nhà phê bình-nhà báo-v.v... phải chăng là không có thật? và không có ảnh hưởng xấu nào, đặc biệt là đối với những người đang chập chững bước vào thế giới nghệ thuật? rộng ra, là với sự vận động phát triển của cả nền nghệ thuật?...

 

Thứ ba, như trong lời nói đầu "Quanh triển lãm “Tò he” của Lê Kinh Tài-Một cách tiếp cận khác..." (http://nguhu.blogspirit.com/archive/2011/11/02/quanh-tri%E1%BB%83n-lam-to-he-c%E1%BB%A7a-le-kinh-tai-m%E1%BB%99t-cach-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-khac1.html) tôi đã viết: "Đối tượng của phê bình không chỉ là các tác phẩm và công việc sáng tác của người nghệ sĩ. Đối tượng của phê bình còn là bản thân phê bình với những quan điểm thẩm mỹ và quan niệm nghệ thuật khác nhau. Tiếp theo nữa, là sự tiếp nhận, hồi âm của đại chúng, những tác động, ảnh hưởng của thị trường, sự chi phối của các chính sách và định chế văn hóa, và cả các nền tảng văn hóa giáo dục v.v…Chúng ta cần phải làm quen dần với sự mở rộng đối tượng này của phê bình, nếu muốn đổi mới thực sự. Nó cần thiết để mở mang tầm nhìn, phát triển tinh thần phê phán, và cùng với tinh thần phê phán là ý thức độc lập-những nền tảng cơ bản để phát triển cá nhân và sự sáng tạo…". Từ góc nhìn này, bài viết "Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ", như đã thấy, là một CÚ HÍCH cần thiết để bật ra những vấn đề mà trong điều kiện bình thường chúng ta sẽ khó nhận thấy. Cứ đọc các ý kiến phản hồi dười bài này trên soi, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy những vấn đề bật ra ở đây là gì! (http://soi.com.vn/?p=51507)

 

 

Sau khi gởi đăng "Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ" trên Soi, tôi hy vọng, sẽ có hồi âm của những người "trong cuộc" và sẽ có một cuộc thảo luận thú vị về những vấn đề đã nêu trong bài. Tiếc rằng chẳng có! (Trừ hồi âm của Mai Chi viết dưới dạng thư gởi riêng). Đọc các ý kiến phản hồi dưới bài trên Soi có thể nhận thấy, hoặc do người "quản trị thông tin" (admin) quá "vụng về", hoặc do bản thân Soi cũng không muốn đào sâu vào những vấn đề này!

 

 

 

2/ Thư Mai Chi:

 

 

Thân chào bạn,      

 

Nếu tôi hiểu đúng thì sự hoang mang của bạn tới từ suy nghĩ sau: tại sao họa sĩ Lê Kinh Tài lại “thành công” như vậy (được hiểu là bán được nhiều tranh, được báo chí nhắc tới nhiều v.v…), trong khi theo bạn thì tranh của anh thiếu chiều sâu, và tại sao có nhiều họa sĩ có tài năng mà vẫn nghèo khổ và không được đánh giá đúng. Và do vậy, có phải gu nghệ thuật của bạn bị “sai” hay không?

 

Bình luận của tôi:

 

Bộ máy của lĩnh vực nghệ thuật (bao gồm các phòng tranh, bảo tàng, nhà phê bình, báo chí, người mua tranh v.v…) không phải hoàn hảo. Bộ máy này có thể lăng-xê quá đáng một nghệ sĩ hay một trào lưu nào đó vì đó là mốt thời thượng, vì lượng tiền đổ vào nghệ thuật tạo bong bóng. Báo chí đua nhau viết về nghệ sĩ nào đấy vì họ đã thành ngôi sao. Các bảo tàng đua nhau trưng bày các nghệ sĩ này vì bảo đảm sẽ có nhiều công chúng. Những triệu phú đua nhau mua tác phẩm vì họ coi đấy là khoản đầu tư chắc ăn. Cứ thế, guồng máy này tự đun nóng nó lên. Trên thế giới, “hiện tượng” Damien Hirst và Jeff Koon đang được coi là ví dụ của sự méo mó này.

 

Ngược lại, bộ máy này có thể bỏ sót các tài năng – họ không được “phát hiện”, hoặc được phát hiện rất muộn, và họ cần một quá trình dài để có thể có chỗ đứng xứng đáng, nếu họ may mắn.

 

Do vậy, thành công về mặt thương mại (bán được nhiều tranh giá cao) chỉ nên được coi là một khía cạnh, chứ không phải là thước đo duy nhất cho chất lượng nghệ thuật. Đặc biệt ở môt trường Việt Nam không chuyên nghiệp, báo chí, bảo tàng, phòng tranh v.v… đều không đóng được vai trò trong chuyện xác định, đáng giá và quảng bá chất lượng nghệ thuật, thì công chúng càng gặp khó khăn hơn. Về Lê Kinh Tài, nhiều khi báo chí cứ bám vào số tiền bán tranh để tạo giật gân, câu khách. Bạn để ý trong một số phỏng vấn Lê Kinh Tài trình bày rất rõ đấu tranh nội tâm và động lực sáng tác của mình nhưng người phỏng vấn thì hời hợt và nông cạn. Ví dụ nữa là ở TP HCM có nghệ sĩ Đinh Q. Lê tầm cỡ thế giới, đã có triển lãm ở nhiều bảo tàng quốc tế danh tiếng và bán nhiều tác phẩm, nhưng anh nổi tiếng ở nước ngoài hơn là ở Việt Nam.

 

Do vậy, vẫn lắng nghe, tìm tòi thông tin, trao đổi với nhiều người, tự chất vấn ý kiến bản thân v.v…, nhưng hoàn toàn không cần phải “hoang mang” khi thấy sau quá trình tìm hiểu phân tích mà quan điểm của mình vẫn khác quan điểm của số đông hay báo chí.  

 

Cuối cùng, mặc dù bộ máy nghệ thuật có thiếu sót nhưng nó cũng là con đường duy nhất để nghệ thuật của mình đến với công chúng. Do vậy, các nghệ sĩ (tương lai) cũng nên chú ý tới những hoạt động để giúp bộ máy dễ “phát hiện” ra mình  hơn: trau dồi kiến thức lý thuyết và lý luận để có thể trình bày về công việc của bản thân, học tiếng Anh để có thể giao tiếp với các phòng tranh và curator nước ngoài, xin tham gia vào các chương trình cư trú, kết nối với các nghệ sĩ trong và ngoài nước, viết lách trên các phương tiện khác nhau v.v…

 

Chúc bạn thành công,

 

Mai Chi

 

 

.................

 

 

*** Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ

http://soi.com.vn/?p=51507

 

Em đang là sinh viên năm thứ hai trường đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Ở trường, em học thường thường, nhưng em tin là mình có tiềm năng. Bạn bè, mấy anh chị lớn vẫn hay nói, “học thầy không tày học bạn”, nhất là phải học những họa sĩ đang thành công chung quanh mình… Em cũng nghĩ như vậy nên cứ nhìn quanh.

 

Bấy lâu nay, em nghe nói nhiều về họa sĩ Lê Kinh Tài. Có người nói họa sĩ Lê Kinh Tài là người thành công nhất ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay. Em không biết người ta nói vậy là như thế nào?; Không biết có phải vì tranh hay thật, hay chỉ vì do triển lãm nhiều, chịu khó đi trại sáng tác trong, ngoài nước, bán được nhiều tranh, tranh giá cao và hay được báo chí nhắc tới mà người ta nói vậy? Mấy câu hỏi này ám em đến bây giờ. Em không biết, nên hiểu thế nào là một họa sĩ thành công. Nói thật là em đã xem mấy cái triển lãm của họa sĩ này trước đây, có cái em thích có cái không, có cái thấy đẹp có cái thấy hơi dễ dãi… Tự trong thâm tâm em không phục lắm, xem tranh em không học hỏi được gì nhiều, nhưng nghe người ta cứ nói như vậy nên rất hoang mang. Bạn bè em nhiều người cũng có tâm trạng hoang mang tương tự. Tụi em đều là những đứa thấp cổ bé họng, ước mơ thì nhiều nhưng vừa nghèo tri thức vừa thiếu kinh nghiệm, chỉ mong được học hỏi.

 

Triển lãm Tò he của họa sĩ Lê Kinh Tài lần này ở tận Hà Nội, không được xem nên em chỉ hóng hớt thông tin trên báo chí, nhiều nhất là trên Soi. Có nhiều điều khiến em hoang mang quá. Em viết thư này là để bày tỏ sự hoang mang ngày càng hoang mang thêm của em, và của các bạn.

 

Dưới đây, em xin nêu ra mấy điều:

 

 

Một, Trước triển lãm, nhiều báo trong nước đã đưa tin, và báo mạng đăng lại cũng nhiều. Có báo đưa ra cái tít rất lạ: Họa sĩ “4,9 tỉ đồng” mang… tò he vào triển lãm!. Có thể đây là cách thức PR nhằm thu hút sự chú ý của số đông và lôi kéo nhiều người đến với triển lãm, nhưng đứng ở góc độ người làm nghệ thuật thì em thấy kỳ cục quá.

 

Một là, liệu giá tranh có quan hệ gì với giá trị nghệ thuật hay không? Việc nhấn mạnh vào giá tranh như vậy, có thể gây cho người đọc, nhất là những người ít am hiểu về nghệ thuật nhầm lẫn đánh đồng giá trị thương mại với giá trị nghệ thuật của tranh hay không? Dễ lắm! Mà em được biết, qua những câu chuyện trong lịch sử và qua nhận định của các nhà phê bình, tranh giá cao chưa chắc đã là tranh có giá trị nghệ thuật. Có nhiều lý do khiến tranh có giá. Cũng giống như phở. “Phở 24” hiện đang thành công trên thị trường, nhưng với người sành ăn, phở ở “Phở 24” chỉ “giống phở thôi!”. Thành công là nhờ vào cách làm thương hiệu!

 

Hai là, nói “Họa sĩ 4,9 tỉ đồng” thành một cục thì có vẻ to, nhưng ngồi tính nhẩm một lát, em thấy giá 4.9 tỉ cho 37 tranh thì cũng chẳng cao, tính đổ đồng ra tiền Mỹ thì cũng chỉ ở khoảng từ sáu đến bảy nghìn đô một bức, nếu so với tranh thêu của XQ, nghe nói có bức đến cả trăm nghìn đô-la, thì rẻ hơn rất nhiều. Tính ra, em thấy nhấn mạnh như vậy thì tội nghiệp cho họa sĩ quá… Nhưng chung quy, theo em thấy, nói như vậy thì tội cho người xem nhiều hơn: Lầm! lầm!

 

 

Hai, Nhưng em hoang mang nhiều hơn với bài viết Tò he ra Hà Nội của nhà phê bình nghệ thuật-giám tuyển độc lập Như Huy đăng trên Soi. Có mấy điều khiến em và các bạn hoang mang:

 

Một là, đối với tụi sinh viên bọn em, anh Như Huy là người “đã là nghệ sĩ” và đã thành “nhà”, anh nói gì thì chắc cũng đúng và có trách nhiệm. Nhưng đọc bài này, em lùng bùng cả đầu óc và nghi ngờ chính mình. Lùng bùng vì chữ nghĩa khó quá. Tuy đọc đi đọc lại nhiều lần, em phát hiện ra đây chỉ là do “phong cách cố tình làm khó” thôi, nhưng phải nói là mệt mỏi. Em không biết đây có phải cũng là một cách thức PR của những người viết lách hay không? Và, nghi ngờ chính mình, vì những điều anh Như Huy viết về nghệ thuật của họa sĩ Lê Kinh Tài, khác quá xa so với những gì mà tụi em từng nghĩ và vài nhà phê bình khác đã từng viết. Xem tranh họa sĩ Lê Kinh Tài, bao giờ em cũng liên tưởng đến Jean-Michel Basquiat và Willem De Kooning. Em có cảm tưởng tranh của họa sĩ Lê Kinh Tài lắp ghép từ hai ông này mà ra, và đó là loại tranh dùng để nói lên một điều gì đó quằn quại trong gan ruột họa sĩ. Em đã từng nghe một người xem tranh nước ngoài nói rằng với hình ảnh đầu người mình thú trợn mắt nhe răng và bút pháp mạnh mẽ trông rất thân phận…! Làm sao tranh Lê Kinh Tài lại có thể “muốn qua đó đưa ra một ẩn dụ cho công việc hoạ sĩ của mình – một ẩn dụ mà qua đó, các tác phẩm nghệ thuật và người nghệ sĩ được tham chiếu tới công việc và sản phẩm của một nghệ nhân dân gian, tức người không hề đứng biệt lập trước cuộc đời, mà trái lại, đi vào cuộc đời, và bằng tài năng cùng sự sáng tạo của mình, đem lại niềm vui, trí tưởng tượng và niềm say mê cho chính cuộc đời.”?; Làm sao lại có thể “và sau nữa, quan trọng hơn cả, là chính các niềm hân hoan mà những tác phẩm ấy đem lại cho họ.”? Em tưởng, tranh Lê Kinh Tài phải là thứ mang lại ưu tư bằng “sự cười cợt của niềm đau nhói” chứ?… Anh Như Huy thì chắc phải hơn hẳn bọn em một cái đầu, vậy chắc anh Như Huy phải đúng rồi. Vậy, có phải lâu nay, tụi em và nhiều người khác cảm nhận sai về tranh họa sĩ Lê Kinh Tài? Chẳng lẽ té ra họa sĩ Lê Kinh Tài chẳng “đương đại” tí nào mà rất “truyền thống”, chẳng “day dứt” chút nào mà chỉ “vui mắt”, chẳng tìm tòi sáng tạo chút nào mà chỉ theo đường của các nghệ nhân tò he tô tô quẹt quẹt, và xa hơn, về vẽ như trẻ con? Lạ thật!…

 

Hai là, khi tụi em thảo luận với nhau quanh những câu hỏi này, có người nói: “Coi chừng, nói vậy chứ chẳng phải vậy đâu. Nhiều khi đó là chiến thuật của giám tuyển độc lập Như Huy nhằm qua mặt quan chức cấp giấy phép triển lãm đó. Chứ nói tranh Lê Kinh Tài bức xúc chuyện này chuyện kia, có khi chẳng bày tranh được…” Nghe cũng có lý! Nhưng nếu đúng vậy thì quá kỳ cục. Chẳng phải làm vậy, triển lãm thì được, nhưng ý nghĩa thì chẳng còn gì nữa sao?! Vậy thì triển lãm để làm gì?.

 

 

Ba, Hôm qua, đọc được bài Nhăn nhở trong một thế giới điên của anh/chị/chú/bác Mai Chi, cũng đăng trên Soi, tụi em phải nói là thấy hả dạ. Tác giả Mai Chi tỏ ra biết nhìn vào tranh mà nói chứ không phải chỉ dựa vào tên triển lãm rồi tán. Tụi em thấy hả dạ, vì những điều tác giả Mai Chi thấy, cũng gần gần với những điều tụi em thấy. Em khoái nhất câu: “So sánh sáng tác của anh với đồ chơi truyền thống thì cũng giống như so một cuộc đấm bốc tóe máu với mấy cách hích đẩy nhau của học sinh ở sân trường” trong bài viết. Cách so sánh thật dí dỏm và đắc địa!

 

Tuy vậy, đến tối, khi nghe một bậc đàn anh am hiểu nghệ thuật và triết học, sau khi đọc bài viết của tác giả Mai Chi đã nói: “Phải coi chừng, cách diễn giải theo kiểu “khái niệm hóa” và “tự sự hóa” như vậy chỉ là những ảo tưởng của trí thức mà thôi. Cách diễn giải này có thể giúp hiểu nội dung bức tranh nhưng không chắc giúp phân biệt một tác phẩm hội họa với một bức tranh minh họa… Lưu ý, mấy ông cha trong nhà thờ thường nói rất hay về bức “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci theo cái cách như vậy, nhưng khi đưa tác phẩm minh họa thì họ cứ đưa ra những phiên bản hiện đại in lòe loẹt của bức tranh này mà chẳng bâng khuâng gì cả, còn giáo dân thì vẫn cứ lim dim khâm phục! ” tụi em đã phải giật mình nghĩ lại.

 

Hình như đúng như vậy thật! Tối về, em đọc đi đọc lại bài của tác giả Mai Chi nhiều lần. Em có cảm tưởng, tác giả Mai Chi cũng biết rõ điều đó. Sự quá tế nhị trong cách viết đã làm cho người đọc thoáng qua một vài lần khó nhận ra thâm ý của tác giả. Cái đoạn này đáng để suy ngẫm: “Tuy nhiên, khi tôi quay lại xem tranh lần thứ hai, ấn tượng ban đầu được gây ra bởi những kích thước lớn và của độ nặng vật lý của lớp sơn dầy bắt đầu giảm đi. Những tác phẩm vẫn giữ được sự chú ý lại là những tác phẩm nhỏ hơn, đơn giản hơn, bởi chúng có thêm được sự tinh tế trộn với cái bạo lực vốn sẵn có. “Bản chất bên trong” là tác phẩm ưa thích nhất của tôi: một cái đầu ốm yếu, một khuôn mặt thất thần, lẫn lộn, bối rối, hàm răng nhe ra, vì đau đớn, vì mệt mỏi quá sức?”.

 

Hình như ở đoạn đầu, tác giả muốn phản bác cách dẫn dắt của nhà phê bình nghệ thuật-giám tuyển độc lập Như Huy, tác giả cho rằng trong tranh họa sĩ Lê Kinh Tài có những nội dung biểu hiện rõ rệt chứ không chỉ là làm cho “vui mắt”…, nhưng đến đoạn này, thì hình như tác giả lại phê phán hình thức biểu hiện hơi có phần dễ dãi, hời hợt của họa sĩ Lê Kinh Tài. Có thể diễn nôm lại đoạn văn này: những bức tranh lớn thì tạo ấn tượng áp đảo về mặt thị giác, nhưng chỉ có bức tranh nhỏ lạc lỏng kia thì mới thực sự có tâm hồn!… Không biết em hiểu như vậy có đúng không? Trong cách hiểu của mình, em khâm phục tác giả Mai Chi quá. Rất tinh tế mà cũng rất tế nhị…

 

Nhưng, càng khâm phục tác giả Mai Chi bao nhiêu thì em lại trở lại hoang mang về sự thành công của họa sĩ Lê Kinh Tài bấy nhiêu. Vậy, phải chăng để thành công (như đã có) họa sĩ chỉ cần biết cách tạo ra những bức tranh to, bạo động có khả năng tạo ấn tượng áp đảo về mặt thị giác chứ không cần biểu hiện một thứ chiều sâu tâm hồn nào?

 

Em, tụi em là những đứa đang mơ thành nghệ sĩ, và mơ được là một nghệ sĩ thành công. Nhưng thế nào là một nghệ sĩ, thế nào là một nghệ sĩ thành công thật khó hiểu quá. Có vài họa sĩ, em tin là họ rất nghệ sĩ và tài năng, nhưng họ nghèo quá, có khi còn bị người khác coi thường. Còn, có vài họa sĩ đang rất thành công, thì em thấy, họ có vẻ giống “Phở 24” quá! Biết làm sao bây giờ? Tụi em phải lựa chọn con đường nào? Mấy anh chị đã là nghệ sĩ ơi, hãy cho tụi em một lời khuyên chân thành!

 

Người muốn thành nghệ sĩ

 

 

 

................

 

Ai muốn đọc lại toàn bộ các bài viết và ý kiến có liên quan thì vào đây: Quanh triển lãm “Tò he” của Lê Kinh Tài-Một cách tiếp cận khác...: http://nguhu.blogspirit.com/archive/2011/11/02/quanh-tri%E1%BB%83n-lam-to-he-c%E1%BB%A7a-le-kinh-tai-m%E1%BB%99t-cach-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-khac1.html

 

 

 

 

27.11.2011

Từ chuyện Nguyễn Thái Tuấn trên Soi: người biết không nói hay tại mù hết rồi...?!

Trên Soi, quanh triển lãm tranh của Nguyễn Thái Tuấn, suốt hai tuần qua, có loạt bài với đủ thứ ý kiến phản hồi đi kèm như sau:

 

1/ SỰ THIẾU VẮNG TRÀN ĐẦY (Thông tin từ Sàn Art)-ngày 9 tháng 11: http://soi.com.vn/?p=53067

2/ Tại Sàn Art: Không thiếu vắng mà tràn đầy (Xuân Triết)-12 tháng 11-http://soi.com.vn/?p=53387

3/ Nhân bàn tranh Nguyễn Thái Tuấn, giới thiệu tranh LIÊN TRƯƠNG (Hoàng Ngọc Hà) 12 THÁNG 11-http://soi.com.vn/?p=53511

4/ Nguyễn Thái Tuấn: Màu của tâm trạng (Lý Đợi)-15 tháng 11-http://soi.com.vn/?p=53595

5/ Đầu tôi, đầu cô, đầu chúng ta (Người xem Hà Nội)-16 tháng 11-http://soi.com.vn/?p=53846

6/ Tranh nhái: Hãy để chồn ăn cà phê rồi nó sẽ ỉa (Nguyễn Minh Thành)-19 tháng 11-http://soi.com.vn/?p=54221

7/ Đối thoại: Có nên độ lượng với Nhái? (Minh Thành, Huy Thông, Lý Chuồn Chuồn)-21 tháng 11-http://soi.com.vn/?p=54461

 

Đọc hết, thật nãn. Ồn ào, lắm chuyện, nhưng chẳng có chút lý lẽ nào cả! Thậm chí, không có cả chút kiến thức sơ đẳng nào về nghệ thuật...!

 

Hầu hết, chỉ là "trò mèo" DÁN NHÃN với CHỤP MŨ! Ai cũng "phán như Thánh"!

 

Bài viết dưới đây, tôi sẽ chứng minh"mọi người" đã DÁN NHÃN, CHỤP MŨ như thế nào.

Và, tại sao tôi lại dám nói: "người biết không nói hay tại mù hết rồi...?!"

 

 

HÃY BẮT ĐẦU TỪ CHUYỆN A, BỜ, CỜ NGHỆ THUẬT. ĐÀNH PHẢI VẬY, BỞI KHÔNG, SẼ THÀNH QUÁ RẮC RỐI, KHÓ HIỂU !  MÀ THỰC RA, LẮM KHI, ĐƯỜNG VÒNG LẠI LÀ ĐƯỜNG NGẮN NHẤT ! 

 

1. Trước hết, hãy quan sát mâm ảnh dưới đây:

Nguyễn Thái Tuấn, Soi

 

Tất cả, đều là những bức tranh "tả thực" (hiểu theo nghĩa bắt chước tự nhiên về mặt tạo hình), nhưng mỗi bức tranh, đều là một đại diện tiêu biểu cho một khuynh hướng nghệ thuật riêng. Chúng được sáng tạo với những quan điểm nghệ thuật và trên những tiêu chuẩn thẩm mỹ khác nhau. Khi phân tích, diễn giải hay đánh giá từng tác phẩm ở đây, không thể bỏ qua các quan điểm nghệ thuật và các quan điểm thẩm mỹ ẩn đàng sau với những "luật chơi" riêng này.

 

Trong góc nhìn Cổ điển-Phục hưng, tác phẩm thứ 1 ở trên-của Titian-là khuôn vàng thước ngọc sang cả, còn tác phẩm thứ 2 kế bên-của Caravaggio-là cái gì hết sức thô tục, gần như báng bổ... Nhưng, từ trong góc nhìn "Dị điển"-cuối thời Phục hưng-thì tác phẩm thứ 2 kia lại là mẫu mực của tính chân thực, còn tác phẩm thứ 1 nọ lại trở thành quá kiểu cách, giả tạo... V.v...

 

Từ ghi chú này, tôi muốn lưu ý điều thứ nhất: Muốn đánh giá đúng một tác phẩm, việc đầu tiên cần phải xác định là phải qui chiếu nó về đâu và phải sử dụng thước đo nào? Với trường hợp tác phẩm Nguyễn Thái Tuấn đang bàn, việc đầu tiên cần phải xác định là nó thuộc khuynh hướng nào và cần đánh giá nó theo 'luật chơi" nào?

 

Tất cả những bài và ý kiến về tranh Nguyễn Thái Tuấn giới thiệu ở trên đều bất cập trước yêu cầu này (Thực ra, ở Việt Nam bao lâu nay, trong việc diễn dịch, phê bình nghệ thuật, người ta vẫn cứ phớt lờ hay chẳng hay biết gì về yêu cầu này!)

 

 

 

2/ Để nhận diện tác phẩm của một họa sĩ nào đó thuộc khuynh hướng nào, sẽ không quá khó khăn nếu có kiến thức về Ký hiệu học nghệ thuật và Văn bản học nghệ thuật. Ở đây, do xem ra, những loại kiến thức này quá xa lạ với số đông, và do để có thể hiểu ngay về trường hợp Nguyễn Thái Tuấn, nên tôi đành phải dùng một ví dụ đơn giản dưới đây:

 

Họa sĩ ngày nay, nhiều người vẫn dùng kỹ thuật xé vụn báo ảnh dán thành tranh. Mỗi vụn giấy là một chất liệu tạo hình. Với chúng, người ta có thể tạo thành những bức tranh Tả thực, Ấn tượng, Tượng trưng, Biểu hiện, Lập thể hay Trừu tượng v.v...-tùy ý. Nhưng, ví dụ, khi đụng đến mẫu giấy báo có ảnh chân dung ông Hồ Chí Minh, chắc chắn, không ít họa sĩ sẽ phải chợn! Nó hơi "nhạy cảm"! Và, ngay cả khi vụn giấy xé từ chân dung ông Hồ Chí Minh đó, có màu sắc, đường nét rất phù hợp để đưa vào tranh, thì không chắc người họa sĩ đã dám dùng. Nó rất dễ bị xuyên tạc! Sự xuất hiện phần ảnh từ chân dung ông Hồ Chí Minh trong tranh, có thể làm "thức dậy" ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh khác trong tranh và, chúng có thể "liên hệ" với nhau, tạo nên một ý nghĩa nào đó-có thể là một sự ngợi ca, nhưng cũng có thể thành ra đả kích, châm biếm...! Ý đồ thể hiện một bức tranh Lập thể hay Trừu tượng với nội dung trữ tình... có thể "biến thành" ý đồ thực hiện một tác phẩm Nghệ thuật Ý niệm (Conceptual Art) với nội dung chính trị...!

 

Trong Nghệ thuật Ý niệm (Conceptual Art), chúng ta đã biết, khi có mặt một yếu tố mang tính biểu tượng, nó sẽ làm "thức dậy" ý nghĩa biểu tượng của các thành tố khác, và lúc này, cả ý nghĩa và giá trị của tác phẩm sẽ được xác định bởi ý nghĩa, tầm quan trọng của ý tưởng chứ không phải bởi kết cấu bề mặt với các tiêu chuẩn thẩm mỹ truyền thống nữa...

 

Hình ảnh "người không đầu" trong tranh Nguyễn Thái Tuấn và Liên Trương, thực tế, vốn là những biểu tượng quen thuộc. Nó thể hiện SỰ THIẾU VẮNG phần CON NGƯỜI, phần NHÂN TÍNH, hay phần CÁ TÍNH nơi hình ảnh con người... Hầu như bất cứ ai cũng có thể liên tưởng hay sử dụng hình ảnh này trong sự suy tưởng về hiện hữu hay về thân phận con người...

 

Từ ghi chú này, tôi muốn lưu ý điều thứ hai: Cả tranh Nguyễn Thái Tuấn lẫn tranh Liên Trương đều là những tác phẩm Nghệ thuật Ý niệm. Là tác phẩm Nghệ thuật Ý niệm, thứ nhất, không thể đánh giá theo các tiêu chuẩn thẩm mỹ truyền thống như mọi người đã và đang làm (đừng bàn chuyện đẹp xấu, kỷ thuật giỏi hay dở ở đây!); thứ hai, bàn chuyện "ai vẽ người không đầu trước", ai "nhái" ai v.v... là điều vô nghĩa, mà hãy xét xem, mỗi người đã sử dụng hình ảnh "người không đầu" như thế nào, hướng đến những mục tiêu nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ gì và tất cả những điều đó có ý nghĩa như thế nào...? v.v...

 

Họa sĩ Việt Nam lâu nay, rất hay bàn về Nghệ thuật Ý niệm. Nhưng thật lạ, trước trường hợp này của Nguyễn Thái Tuấn và Liên Trương đã chẳng thấy ai lên tiếng?!

 

 

3/ Dưới đây là vài hình ảnh tác phẩm điêu khắc, sắp đặt "người không đầu" nổi tiếng của một nghệ sĩ Anh gốc Nigeria (Yinka Shonibare) và hai nghệ sĩ người Cu Ba (Alain Guerra-1968-và Neraldo de la Paz-1955-ký chung nghệ danh là Guerra de la Paz). Không biết mấy người này có gấu ó với nhau là ai "nhái" ai không?!


Nguyễn Thái Tuấn, Soi

Để tránh dài dòng, tôi không phân tích những tác phẩm đưa hình ở trên đặc sắc như thế nào và nổi tiếng ra làm sao. Muốn biết thêm, mọi người có thể dò tìm trên Google-có rất nhiều tư liệu để xem, đọc.

 

 

4/ Cuối cùng, từ góc nhìn của Nghệ thuật Ý niệm, với thước đo là "luật chơi" của Nghệ thuật Ý niệm, hãy xem lại tranh của Nguyễn Thái Tuấn và Liên Trương đi!


Nguyễn Thái Tuấn, Soi

 

Có lẽ tôi không cần phải dông dài diễn giải tranh của Nguyễn Thái Tuấn với của Liên Trương nữa. Đến đây, mọi người đã có thể hiểu hai mảng tranh của hai tác giả này khác nhau như thế nào rồi!...

 

 

 

 

Nguyên Hưng



.

 


 


 

11.11.2011

Nghi án “hình sự nghệ thuật”…- treo!

Ngày 4 tháng 11-2011, tôi nhận được mail của một bạn sinh viên ở trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, có nội dung như sau: “Chú ơi, chú đọc cái này trên soi chưa?

 

10:21 Friday,4.11.2011

Đăng bởi:  admin

Nói thêm với Mih: Trong toàn cuộc thảo luận, Soi chưa bao giờ yêu cầu chính danh. Nhưng giả danh để hành xử không công bằng, cố tình nói sai sự thật thì không chấp nhận được. Chưa kể gần đây còn có tình trạng viết bài tố họa sĩ (này) copy tranh nước ngoài rồi đưa tranh dởm, tên họa sĩ dởm để gài cả Soi lẫn diệt họa sĩ (nghĩ bọn này không biết tra google chắc :-)). Nói chung là nhiều thủ pháp lắm bạn ạ. Chỉ vì thù riêng mà làm lắm thứ linh tinh quá. Nghĩ trên đời sao người có tài mà không viết thẳng ra một bài phân tích đẹp xấu, hay dở đi cho nó xứng tầm, cứ loằng ngoằng đi đường vòng làm gì không hiểu nổi!

soi-admin.jpg


http://soi.com.vn/?page_id=350&post_ID=52098

 

hình như người ta đang nói về chú đó. Mấy bạn con nói dzậy! hic…”

 

Cùng ngày, bạn phongdecor cũng gởi cho tôi cái mail với nội dung: “Xem này anh: http://soi.com.vn/?page_id=350&post_ID=52098”

 

Và sau đó, là vài cuộc điện thoại của vài bạn họa sĩ ở Hà Nội, cả thảy đều xoay quanh ý kiến “trông trổng, bóng gió” này của Soi, và cho rằng có liên quan đến tôi...

 

 *

 

Đáng lý ra tôi không cần phải có phản ứng gì, bởi vì, như vừa nói (ai cũng thấy) ý kiến của Soi chỉ là “trông trổng, bóng gió” mà thôi…

 

Tuy vậy, có 2 vấn đề đáng lưu ý khiến tôi quyết định lập “hồ sơ ghi chú” này để bất cứ ai cũng có thể suy xét về sau.

 

Thứ nhất, dù ý kiến của Soi chỉ là “trông trổng, bóng gió”, nhưng “dư luận trong làng” cho rằng có liên quan đến tôi, là điều có thật. (Việc ‘dư luận trong làng” cho rằng có liên quan đến tôi, trong thời điểm hiện tại, hoàn toàn dễ hiểu, bởi liền kề với vụ lùm xùm quanh “Kính gởi mấy anh chị đã là nghệ sĩ” mà mọi ý kiến có liên quan tôi đã tập hợp tương đối đầy đủ trong tệp tài liệu: “Quanh triển lãm “Tò he” của Lê Kinh Tài-Một cách tiếp cận khác...” -lưu ở địa chỉ: http://nguhu.blogspirit.com/archive/2011/11/02/quanh-tri%E1%BB%83n-lam-to-he-c%E1%BB%A7a-le-kinh-tai-m%E1%BB%99t-cach-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-khac1.html)

 

Thứ hai, có một sự kiện xảy ra trước đó mấy hôm ít nhiều khiến tôi ngờ ngợ rằng đằng sau tất cả chuyện này hình như có liên hệ nào đó. Cụ thể, đó là việc Lê Thái Sơn (được biết đến ở danh nghĩa là “nhà sưu tập nghệ thuật”) có gởi cho tôi một cái mail (từ Phạm Huy Thông gởi cho Lê Kinh Tài, từ Lê Kinh Tài chuyển cho Lê Thái Sơn, cuối cùng là Lê Thái Sơn chuyển cho tôi), và nội dung mail nói về một vụ “đạo tranh”. Tôi hơi nghi ngờ nội dung sự việc nêu trong mail, và cả mục đích chuyển mail, nhưng thấy đó không phải là điều tôi quan tâm trong thời điểm hiện tại nên gạt qua bên… Đến khi đọc ý kiến dẫn trên của Soi, tôi có cảm tưởng như có ai đó muốn “gài bẫy” tôi làm cái việc mà Soi đã “trông trổng, bóng gió” kết án.

 

Dĩ nhiên khi Soi chỉ “trông trổng, bóng gió” như vậy, mọi kết luận đều trở thành vội vàng, võ đoán, thậm chí là hàm hồ… nhưng bởi, như đã nói ở trên, do “dư luận trong làng” cho vấn đề Soi nêu có liên quan đến tôi, nên tôi quyết định gởi mail hỏi Lê Thái Sơn và cả Bùi Hoài Mai (không rõ làm gì ở Soi)  

 

Dưới đây là nguyên văn email tôi gởi cho Lê Thái Sơn.

Chủ đề: Có chuyện muốn hỏi ông tí

Nội dung mail:

Có chuyện muốn hỏi ông tí:

Ngày 31/10 trên FB ông chat với tôi, có đoạn nhau sau (tôi chụp màn hình):

le thai son fb.jpg

 

 

Sau đó, tôi mở mail, nội dung mail ông gởi cho tôi như sau (tôi chụp màn hình):

mail lts 1.jpg

mail lts 2.jpg

 

Tôi không bình luận gì về nội dung mail ông chuyển tiếp.

Mới đây, tôi thấy có comment này trên Soi: "

Admin

10:21 Friday,4.11.2011

Nói thêm với Mih: Trong toàn cuộc thảo luận, Soi chưa bao giờ yêu cầu chính danh. Nhưng giả danh để hành xử không công bằng, cố tình nói sai sự thật thì không chấp nhận được. Chưa kể gần đây còn có tình trạng viết bài tố họa sĩ (này) copy tranh nước ngoài rồi đưa tranh dởm, tên họa sĩ dởm để gài cả Soi lẫn diệt họa sĩ (nghĩ bọn này không biết tra google chắc :-)). Nói chung là nhiều thủ pháp lắm bạn ạ. Chỉ vì thù riêng mà làm lắm thứ linh tinh quá. Nghĩ trên đời sao người có tài mà không viết thẳng ra một bài phân tích đẹp xấu, hay dở đi cho nó xứng tầm, cứ loằng ngoằng đi đường vòng làm gì không hiểu nổi! (http://soi.com.vn/?page_id=350&post_ID=52098)

 

Điều tôi muốn hỏi ông là: ông có thấy nội dung ông mail cho tôi và comment trên Soi có quan hệ gì với nhau hay không?

Tôi sẽ lật tẩy vụ này (Khá thô thiển, dễ hiểu).

Do vấn đề có liên quan đến ông, nên tôi báo cho ông biết trước.

 

Nguyên Hưng

 

 

Còn dưới đây, là nguyên văn email tôi gởi cho Bùi Hoài Mai

 

Chủ đề: Thông tin có lẽ anh nên biết

Nội dung mail:

Anh Mai ơi,

Đây là mail tôi vừa gởi cho Lê Thái Sơn.

Do vấn đề có liên quan đến Soi, nên tôi cũng gởi luôn cho anh.

Tôi nghĩ, xem qua, anh sẽ hiểu ngay đàng sau những thông tin này là chuyện gì.

Thân mến,

Nguyên Hưng

(Tiếp theo là phần nội dung tôi gởi cho Lê Thái Sơn ở trên)

 
 *

 

Sau khi nhận được mail (1 ngày sau), Lê Thái Sơn đã điện thoại hẹn tôi ra café nói chuyện, nhưng tôi bảo đang ở xa, không gặp nhau được, cứ trao đổi qua mail. Sau đó, Lê Thái Sơn đã nhắn tin vào điện thoại của tôi, nguyên văn như sau: “Vu toi gui bac xem cho vui thoi, chu thuc ra day la viec nguoi khac.. chuyen pham huy thong phat hien, roi gui cho le kinh tai.. Sau do cau ay gui toi.. Giong nhu su chia se thong tin thoi. Bac cu tim hieu va theo toi dung loi tat ca vao lam ghi, vi toi gui bac xem cho vui, ma gay chuyen the nay., ban le kinh tai, nguyen quang vinh… Lai nghi toi choi lai ban be..gay mat doan ket khong dang., minh con ngoi café cafao voi nhau. Bac luu y dum va cam on bac nhieu ve chia se tren. Thai son (10:48-2011.11.08)

 

Còn dưới đây là nguyên văn email Bùi Hoài Mai trả lời tôi: “Anh Hưng thân mến. Tôi chả hiểu gì cả. Cái này đâu liên quan gì tới Soi. Cái comment trong Soi là ở một việc khác. Tôi cũng đã nhận được hình tranh của Vinh khá lâu rồi, nhưng không quan tâm lắm vì đâu chỉ căn cứ trên cái túi mà quy chụp. Biết đâu một nhà thiết kế nào đó nhìn thấy ảnh tranh của Vinh và chế lại in hình lên túi thì sao... mà Soi cũng không rỗi hơi đi lần mò việc đó. Còn nếu ai cho là đúng thì gửi bài có đủ chứng cứ và lập luận. Thế nhưng bọn này cúng không khuyến kích vì phải đi kiểm chứng lại thông tin, oải lắm. Soi muốn tập trung sức lực đưa nhiều thông tin hơn cho mọi người, những gì làm cho MT phát triển. Chứ cứ chăm chăm đập nhau hoài. Mệt. Anh có bài nào hay gửi cho Soi đi. Đơn giản, cụ thể.. giúp họa sỹ vừa hăng say vẽ vừa bán được tiền ấy. Những khái niệm học thuật phải lồng khéo vào nội dung. Kinh nghiệm rồi: những khái niệm phức tạp một chút là đếch ai đọc. Mà viết ra không ai đọc, nó phí đi. Ừ thì " cái nước mình nó thế".” (09:39 Ngày 08 tháng 11 năm 2011)

 

 

THAY CHO KẾT LUẬN:

 

Tôi không kết luận gì cả!

 
Cái ý kiến "trông trổng, bóng gió" của Soi vẫn treo đó: "Nói thêm với Mih: Trong toàn cuộc thảo luận, Soi chưa bao giờ yêu cầu chính danh. Nhưng giả danh để hành xử không công bằng, cố tình nói sai sự thật thì không chấp nhận được. Chưa kể gần đây còn có tình trạng viết bài tố họa sĩ (này) copy tranh nước ngoài rồi đưa tranh dởm, tên họa sĩ dởm để gài cả Soi lẫn diệt họa sĩ (nghĩ bọn này không biết tra google chắc :-)). Nói chung là nhiều thủ pháp lắm bạn ạ. Chỉ vì thù riêng mà làm lắm thứ linh tinh quá. Nghĩ trên đời sao người có tài mà không viết thẳng ra một bài phân tích đẹp xấu, hay dở đi cho nó xứng tầm, cứ loằng ngoằng đi đường vòng làm gì không hiểu nổi!"

 

Và cái ý kiến hóng hớt hùa theo mà Soi đồng tình cũng đã được treo lên đó: "... không sao mà Soi - chắc võ sư lò bên không có ý định sang đây thảo luận, chỉ là thấy có lò võ mới nhộn nhịp nên sang thăm dò, lại tung vài "hư chiêu" để thử tài - Soi đã tinh ý "triết chiêu" được rồi thì thôi. Vẫn luôn tin tưởng vào con đường "bạch đạo" mà Soi đã lựa chọn để khẳng định vị thế so với "hắc đạo" ở chốn giang hồ - cho dù hai mặt sẽ vẫn luôn cùng tồn tại :)!" ( Đăng bởi:  mih-14:09 Friday,4.11.2011)

 

"Bóng gió, trông trổng", "hóng hớt hùa theo"... nhưng có vẻ rất hiểu nhau...! 

 Đến lúc này, tôi không biết nên gọi Soi là cái gì?!

 

 

Nguyên Hưng

........................................


Tôi đăng bài này lên Facebook và lúc 1h sáng nay. Đến gần 8h, đã có vài ý kiến phản hồi, trong đó, có 2 ý kiến đáng chú ý sau đây của Phạm Huy Thông:


1/ Pham Huy Thong: Em đã nói thẳng với anh Nguyên Hưng là em không ưa được anh Hưng. Chuyện gì anh Hưng cũng tung hoả mù loạn lên. Email trao đổi riêng giữa em và anh Le Kinh Tai thì liên quan gì đến chuyện của Nguyên Hưng và Soi mà anh lôi vào? Mà email đó là trao đổi riêng tư, chưa đi đến kết luận gì, muốn đem sự việc ra hỏi anh Nguyen Quang Vinh. Anh Hưng có quyền gì mà đưa nó lên đây. Tất nhiên nếu anh Hưng muốn đưa việc này lên tầm "Nghi Án" thì anh Hưng tự đi mà làm. Sao phải lôi em và anh Tài vào. Nói thật lòng cho anh Hưng biết luôn. Những comment trên Soi theo dạng lấy tay người này để đấm người kia em đều tránh không trả lời lại. Em không có bằng chứng là anh Hưng đứng sau các việc đó, nhưng cái "não trạng" của kẻ giấu tay đó thì em ngửi thấy quen lắm. Xin tag luôn anh Bùi Bui Hoai Mai vào đây để anh ấy được biết.


2/ Pham Huy Thong: Xin nói thêm một câu nữa cho rõ ràng, email mà Phạm Huy Thông gửi Le Kinh Tai chỉ có một ảnh cô gái đeo túi thôi. Còn cái ảnh dưới không phải Thông gửi. Nhất là ảnh dưới, ai đó còn mất công đính phụ đề Tranh Tàu vào ảnh nữa, không phải Pham Huy Thông làm việc đó. Xin tag Le Thai Son, Bùi Bui Hoai Mai, và Pham Nguyen Quang Vinh vào đây để các anh ấy biết. Mong anh Nguyên Hưng đừng xoá 2 comment này của em.

pham huy thong fb.jpg

 

Dưới đây là vài comment mới (12/11/2011) trên Facebook:

 

Chic Portrait Thế , cho hỏi nhân vật "admin" của Soi là ai thế nhỉ ? Nghe đồn là nhân vật chuyên gia xóa cm của người ta thì phải . Có dám ra mặt ko hỉ

Thạch Tử lại có việc li kì rồi ạ :)

Lê Xuân Hưng Linh chú Thông thỉnh thoảng phải cà khịa không thì đ ai nó nhớ. Hố hố. Soi là kênh PR của riêng mày à Thông?

Hoa Lan Theo cmt của Phạm Huy Thông, mail của PHT gởi cho Lê Kinh Tài, từ chỗ LKT chuyển qua cho Lê Thái Sơn đã sinh chuyện khuất tất. Không biết LKT dựng "hiện trường giả" như vậy, là để "chơi" Nguyễn Quang Vinh, hay là để "gài bẫy" bác Nguyên Hưng đây?... Kiểu gì cũng thối!

Hoa Lan Xem kỹ mail được chụp mới phát hiện ra chuyện hay về bạn Phạm Huy Thông: trên Soi, bạn Thông hay lu loa họa sĩ này họa sĩ kia nhái tranh, đạo tranh, nhưng khi "Em mới phát hiện vụ này, đây là tranh một họa sĩ Tàu được chọn in trên túi của Saatchi Gallery. Có nên gửi cho anh Vinh biết không?" Khẻ khàng nhỉ! Té ra phe cánh kinh thật!

Hoa Lan Về bức tranh "Mèo Tàu" http://www.saatchi-gallery.co.uk/artis...



Tôi sẽ tiếp tục cập nhật nếu có thêm thông tin phản hồi. (NH)

 

Dưới đây là 2 bức ảnh kèm trong mail Lê Thái Sơn gởi cho tôi (ảnh chụp màn hình ở trên), do một số bạn gởi mail yêu cầu cho xem hình rõ hơn, nên tôi đưa thêm vào ở đây (cập nhật lúc 22h25 ngày 13/11/2011).

Điều "bất ngờ" là như mọi người đã thấy trong phần comment, chính Phạm Huy Thông đã "tố cáo" rằng, khi gởi mail cho Lê Kinh Tài, anh chỉ kèm 1 tấm hình cô gái với túi xách có ảnh tranh giống tranh Nguyễn Quang Vinh mà thôi (ảnh trên)... Điều đó có nghĩa, trước khi chuyển tiếp thư của Phạm Huy Thông cho Lê Thái Sơn, Lê Kinh Tài đã chèn thêm tấm hình có chú thích chữ (ảnh dưới) vào...!

Phạm Huy Thông

Lê Kinh Tài

.

 







02.11.2011

Quanh triển lãm “Tò he” của Lê Kinh Tài-Một cách tiếp cận khác...

 

NGUYÊN HƯNG

 
 
 

Đối tượng của phê bình không chỉ là các tác phẩm và công việc sáng tác của người nghệ sĩ. Đối tượng của phê bình còn là bản thân phê bình với những quan điểm thẩm mỹ và quan niệm nghệ thuật khác nhau. Tiếp theo nữa, là sự tiếp nhận, hồi âm của đại chúng, những tác động, ảnh hưởng của thị trường, sự chi phối của các chính sách và định chế văn hóa, và cả các nền tảng văn hóa giáo dục v.v…

 

Chúng ta cần phải làm quen dần với sự mở rộng đối tượng này của phê bình, nếu muốn đổi mới thực sự. Nó cần thiết để mở mang tầm nhìn, phát triển tinh thần phê phán, và cùng với tinh thần phê phán là ý thức độc lập-những nền tảng cơ bản để phát triển cá nhân và sự sáng tạo…

 

Nền mỹ thuật Việt Nam đã có quá nhiều những huyền thoại-được gieo rắc bởi những chiến lược diễn dịch nghệ thuật nào đó, bởi những mưu đồ giật dây dư luận nào đó v.v…- và hậu quả của nó, là sự ngự trị của vô số những ảo tưởng, hoang tưởng và ngộ nhận nơi tâm trí không ít người nằm trong tầm ảnh hưởng… Đó là nguyên do chính dẫn đến tình trạng dẫm chân tại chỗ, trì trệ của cả nền văn hóa mỹ thuật Việt Nam lâu nay…

 

Trong tệp tài liệu đính kèm ở đây, tôi tập hợp tương đối đầy đủ các thông tin chính quanh triển lãm “Tò he” của họa sĩ Lê Kinh Tài ở Hà Nội mới đây-từ các bài báo đưa tin, các bài viết có tính cách “định hướng” người xem, phê bình, đến các ý kiến phản hồi đủ loại v.v… Sự tập hợp này, trước hết, là tạo thuận lợi cho sự so sánh, đối chiếu…; và sau hết, là bày ra một toàn cảnh cho sự khái quát… 

 

Nhiều người chắc chắn sẽ hỏi, tại sao lại là tập hợp các thông tin quanh triển lãm “Tò he” của họa sĩ Lê Kinh Tài chứ không phải của một ai khác? Và tôi cũng biết, một số người, sẽ giải thích là do những vấn đề cá nhân…! Bất chấp mọi sự xuyên tạc có thể có cùng các hệ lụy, ở đây tôi xin trả lời ngắn gọn mấy lý do chính: thứ nhất, không thể phủ nhận Lê Kinh Tài là họa sĩ đang có nhiều ảnh hưởng đến số đông họa sĩ trẻ ở Việt Nam; thứ hai, sự ảnh hưởng của Lê Kinh Tài bao gồm nhiều khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực xét trên phương điện nghệ thuật cần phải làm rõ; thứ ba, bản thân quan niệm về nghệ thuật và phương pháp sáng tác của Lê Kinh Tài cũng có nhiều vấn đề cần phải suy xét…

 

 Download:

 

Quanh triển lãm Tò he của Lê Kinh Tài.docx

Ghi chú: Tệp tài liệu này đã được cập nhật vào lúc 23h50 ngày 7/11.

 

.

21.10.2011

Từ chuyện võ đến chuyện vẽ - hay chuyện làm thế nào để trở thành một họa sĩ ăn khách (Kỳ IV).

Kỳ IV-TÙ MÙ CHUYỆN "TU HỌA" VỚI "TU THÂN"

 

 

Trong bài trước, tôi đã nói, công chúng nghệ thuật cũng có những "yếu huyệt", và hầu hết những họa sĩ thành công trên thị trường đều là những người đánh trúng vào những "yếu huyệt" này.

Đáng lý ra, tôi đã phải phân tích, trong vài trường hợp điển hình, họa sĩ A và B và C..., đã dùng "chiêu thức" gì? đánh vào chổ yếu nào nơi công chúng nghệ thuật? công chúng nghệ thuật nào? đánh như thế nào? vũ khí chính là gì? biến "chiêu" như thế nào? các "hư chiêu" nào hay được dùng? cách "lừa đòn" phổ biến? các kiểu tung hỏa mù hay được sử dụng? bối cảnh hay các tình huống khả dụng cho từng "chiêu thức"? v.v...

Tuy nhiên, sau khi cân nhắc kỹ, tôi quyết định thôi. Lý do: tất cả các cách "đánh" này, cho dù dùng "chiêu thức" gì, một "chiêu" hay nhiều chiêu, thì về bản chất, cũng giống nhau ở sự thích ứng, chìu theo-"nịnh ý", "nịnh mắt", "mà mắt"... V.v...! 

Xét đến cùng, đó cũng chỉ là chuyện nhỏ. Điều đáng quan tâm hơn ở đây, chính là, cái gì ở đàng sau tạo nên các "yếu huyệt" nơi công chúng nghệ thuật, đặc biệt công chúng nghệ thuật trong nước; và các kiểu "đánh" như vậy, nếu không được "gọi tên" đúng, thì sẽ gây ra những tác hại gì với những hậu quả và hệ lụy ra làm sao?

Có thể nói ngay, "điểm yếu" nơi công chúng nghệ thuật, chính là phần "linh hồn" bị cầm nắm, giật dây" nơi đại chúng. Bởi các chế độ chính trị, sự "cầm nắm và giật dây" này, được thực hiện thông qua giáo dục, các định hướng và định chế văn hóa, sự kiểm soát truyền thông, và các chiến lược diễn dịch nghệ thuật v.v... Và, sự "cầm nắm, giật dây" này là nhằm "tái sản xuất xã hội", bảo đảm thế đứng ổn định cho lực lượng cầm quyền... trong một trật tự ý nghĩa và giá trị biểu kiến nào đó... (Để hiểu hơn điều này, các bạn nên tìm đọc Pierre Boudieu-một chuyên gia xã hội học văn hóa người Pháp nổi tiếng từ những năm 1970)  

Nghệ thuật Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa trước đây, tồn tại trên sự duy trì và "tái sản xuất" không ngừng những "điểm yếu" này nơi đại chúng, và, được xem là công cụ "cầm nắm", "điều khiển" tâm hồn đại chúng...

Các trường văn hóa nghệ thuật trong hệ thống này, bao gồm các trường mỹ thuật, đã được xây dựng và hoạt động theo các định hướng như vậy. Nó loại trừ các khuynh hướng nghệ thuật khác, cùng cả các nền tảng văn hóa học thuật có liên quan; nó quay lưng và xuyên tạc các lý thuyết nghệ thuật mới của nhân loại. Nó không nhằm tạo ra các nghệ sĩ-những con người sáng tạo tự do-mà là "các chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng"-những "sát thủ ngọt ngào" đối với "cái khác" và cả phần tự do-nhân tính nơi con người...!

V.v...

Bước qua thời "đổi mới"-"mở cửa" ra thế giới và phát triển "kinh tế thị trường"-nghệ thuật Việt Nam tưởng đã có cơ hội phát triển, nhưng, trái lại. Sự công nhận Sáng-Phái-Nghiêm-Liên, cũng như sự công nhận trở lại Thơ mới, văn chương Tự lực Văn đoàn... chỉ là nới lỏng một phần không gian cho những "cái tôi" đang ngoắc ngoải sống lại và khát khao thể hiện... Những "đổi mới" ở Sài Gòn cùng thời gian cũng vậy, chỉ là thổi bùng lại những đốm lửa tàn vốn đã phát triển từ trước và đã bị vùi dập ở miền nam sau 1975. Những sự "đổi mới" này, chỉ vừa đủ để làm nên háo hức và hy vọng, tạo ra những cơn say, những ảo ảnh... chứ không đủ tạo thành những khả năng cho sự đổi mới thực sự.

V.v...

Đến nay, nhiều người tin rằng, với con lũ thông tin và các hoạt động giao lưu của thời đại internet và toàn cầu hóa, sự đổi mới  sẽ có được những khả năng thực tế. Xem ra, sự lạc quan này hơi có phần ngây thơ!

Thực tế, các nhà chính trị đã rất khôn ngoan khi áp dụng "thuật trị thủy" vào công việc quản lý sinh hoạt văn hóa nghệ thuật. Họ đã biết dựng những con đê ngăn chặn, mở những con kênh thông luồng, và tạo ra những cái van xả lũ.


- Những con đê ngăn chặn, chính là các thiết chế quản lý và điều hành nghệ thuật vẫn gần y như cũ

- Những con kênh thông luồng, đến giờ, có thể nhận thấy, nằm ở các hoạt động thể hiện chiến lược diễn dịch nghệ thuật tưởng chừng phi chính thống, nhưng thực chất, đang làm công việc đánh tráo khái niệm, bẻ chiều vận động của các xu hướng đổi mới, "đưa thẳng phù sa ra biển". Đây có thể là các hoạt động mang tính biệt phái, nhưng cũng có thể chỉ bới sự khôn ngoan cơ hội với những động cơ mang tính cá nhân... Cứ xem các thực hành nghệ thuật "đương đại" nhưng rất "truyền thống", những diễn ngôn rối rắm về "nghệ thuật đương đại", các bài viết phê bình của Nguyễn Quân, của Phan Cẩm thượng, và, một số diễn dịch lý thuyết, cùng một số hoạt động của cả Như Huy thời gian gần đây, bất cứ ai chỉ cần tỉnh táo và tinh tế một chút cũng sẽ nhận thấy điều này... (Có lẽ, đến một lúc nào đó, sẽ phải xem lại các tác phẩm "đương đại" của những người như Nguyễn Bảo Toàn, Đặng Thị Khuê, Đào Anh Khánh, cả Nguyễn Minh Thành..., và các diễn giải lý thuyết của Như Huy)

- Và, những cái van xả lũ, không gì khác hơn, chính là các kênh thông tin và hoạt động thị trường. Nghệ thuật thị trường, xét đến cùng, rất gần với nghệ thuật Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa. Đó là những thứ nghệ thuật hết sức thực dụng, chìu theo đại chúng, lợi dụng các điểm yếu của đại chúng... Nó 'hạ giá" nghệ thuật, và "hạ thấp" luôn cả nghệ sĩ... Sự thành công của những họa sĩ "một chiêu", "hai chiêu"... trên thị trường được các phương tiện truyền thông thổi phồng, quảng cáo ầm ỉ..., chỉ làm cho các họa sĩ trẻ càng không biết đâu mà lần!

 

Chính cách quản lý sinh hoạt văn hóa nghệ thuật theo "thuật trị thủy" này đã giết chết nghệ thuật. Nó xé nát tâm hồn những người trẻ hồn nhiên yêu nghệ thuật, muốn làm một điều gì đó trong nghệ thuật; nó biến những người khôn ngoan thực tế, thành những kẻ cơ hội, thậm chí là lưu manh trong nghệ thuật; và tràn lan, là một thứ tâm lý bất lực, mệt mỏi, rã rời...  Bởi thấy như vậy, mà  trong bài trước, ở kết luận, tôi phải buông câu: "Tiếc rằng, cả nền văn hóa mỹ thuật Việt Nam như nói ở trên, xem ra đang tù mù mọi sự. Và, có lẽ, còn tù mù lâu!".

 

*

Sau khi công bố bài 3-"Từ chuyện võ đến chuyện vẽ - hay chuyện làm thế nào để trở thành một họa sĩ ăn khách"-tôi đã nhận được rất nhiều mail của các bạn đang là sinh viên ở các trường mỹ thuật Sài Gòn, Huế và Hà Nội. Hầu hết đồng tình, nhưng hầu hết cũng đều thể hiện sự hoang mang, bối rối. Hầu hết, đều hỏi "vậy cháu phải làm gì bây giờ?"

 

Cái câu hỏi này, với ai, có lẽ cũng là điều nhức nhối!

 

(Còn nữa)

 

Nguyên Hưng



.

13.10.2011

Từ chuyện võ đến chuyện vẽ - hay chuyện làm thế nào để trở thành một họa sĩ ăn khách. (Kỳ III)

3. ĐẾN CHUYỆN VẼ...

 

 

Trở lại với ông anh họ tôi ở bài đầu(1). Năm 1985, khi chỉ cho tôi mấy chiêu "đánh chết người" đó, anh nói đơn giản, đại khái: "Cơ thể con người có những điểm rất yếu. Ở bụng thì chỗ này, chỗ này, ở cổ thì chỗ này, chỗ này (anh vừa nói vừa chỉ)... Dân học võ mấy cậu thì lo né, lo che... mấy chỗ đó, còn đám giang hồ như tôi, để tồn tại, thì cứ mấy chỗ đó mà tấn công. Với đám tay ngang, dù khỏe như voi, chỉ một phát vào chỗ này (anh chỉ một điểm ở vùng bụng) là gục. Còn với đám biết chút võ nghệ, đã biết cách che chắn các vùng hiểm, thì cậu phải biết cách đánh lừa để mở khoảng trống. Đã lừa thì phải bất ngờ, với ngay cả dân giỏi võ. Đòn thế phải nghịch thường. Đặc biệt là phải biết giấu ánh mắt. Đây, cậu xem nè, chiêu của tôi chỉ là một loạt đòn liên hoàn... (Anh tấn công tôi...). Đó, vô bộ hạ rồi đó..."...

 

Đêm đó, hai anh em tôi quần nhau đến khuya. Cũng mấy chiêu đó, nhưng lúc anh dùng chân trái, lúc anh dùng chân phải, lúc phối hợp với một cú đảo rồi hạ thấp người nhanh v.v... biến báo khôn lường...

 

...

 

Công chúng nghệ thuật cũng có những yếu huyệt như thế. Rất ít người có cảm nhận và lựa chọn độc lập. Đa số chịu sự chi phối của một thứ định kiến đồng đại, một thứ tâm cảm đương đại nào đó. Trước hội họa, đa số, thường thích những gì thật cụ thể, ưa những thứ triết lý nhẹ nhàng, không cần ngẫm nghĩ và những hình tượng mang sắc thái trữ tình, hay qui chiếu nghệ thuật về hiện thực và những giá trị đã trở thành khuôn mẫu v.v... Khái niệm "tranh dễ treo" ở người Việt Nam còn gắn liền với tập quán sinh hoạt theo kiểu "đại gia đình" và thói quen "hòa đồng"... Cái phần tỏ ra "cá tính" nhất nơi nhiều người, cũng chính là cái phần bị "trói buộc" nhiều nhất-bị chi phối bởi những ảo ảnh: "cái ghế", "cái bảng hiệu" v.v..., nói chung là những cái thời thượng!

 

Hầu hết những họa sĩ thành công trên thị trường đều là những người đánh trúng vào những yếu huyệt này. Có thể do rạch ròi ý thức-khôn ngoan-nhưng cũng có thể đơn giản chỉ do một sự "đồng điệu" văn hóa.Một thực tế cần phải ghi chú, là ở Việt Nam mấy chục năm nay, không chỉ có đại chúng mới "thất học" về nghệ thuật, mà ngay cả giới làm nghệ thuật cũng đã bị rơi vào tình trạng "thất học" tương tự. Cái quan điểm "trường mỹ thuật chỉ là nơi đào tạo cán bộ mỹ thuật" với các mục tiêu thực dụng (thổi phồng thành "vị nhân sinh") chi phối một thời tuy đã quá lạc hậu và đã trở thành "phản động" cho đến nay vẫn chưa bao giờ được đánh giá lại một cách hệ thống và loại bỏ. Cho đến nay, ở các trường mỹ thuật Việt Nam, sinh viên chủ yếu vẫn chỉ học hình họa, bố cục, trang trí (so với học võ, đây chỉ mới là những bộ môn có tác dụng rèn thể lực và luyện thân pháp mà thôi, chưa phải là học võ). Sự sáng tác  vẫn được hướng theo cảm quan nghệ thuật hiện thực và lãng mạn chủ nghĩa với các tiêu chuẩn cân bằng thị giác (ảnh hưởng nghệ thuật Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20). Tuy vậy, rất ít người đi đến tận cùng các khuynh hướng này. Đa số, khi sáng tác, vẫn sáng tác theo kiểu bắt chước, học lóm cách vẽ ở một giai đoạn nào đó của một danh họa nào đó trên thế giới như một sự cách điệu (làm như nội dung và hình thức nghệ thuật là hai phần tách bạch như ruột với vỏ!)-người thì theo Gauguin, người thì theo Matisse, người thì theo Chagall người thì theo Kandinski, người thì theo Picasso, người thì theo Klee, người thì theo De Kooning..., sau này thêm vài họa sĩ Trung Quốc v.v... (So với học võ, thì đây chỉ là học lóm chiêu, "ngón", chứ không phải thực sự học võ). Cách bắt chước, học lóm (vô ý thức) này dẫn đến hậu quả, phần lớn họa sĩ Việt Nam không mấy người thực sự hiểu sự vận động, biến đổi của bản thân ngôn ngữ hội họa cũng như các chiều kích khác nhau của sự sáng tạo. Rất nhiều họa sĩ vẽ tranh trừu tượng mà không hiểu hội họa trừu tượng là gì, cứ nhầm lẫn với sự trừu tượng hóa (theo nghĩa giản lược hóa) theo cái nhìn ấn tượng hay tượng trưng cũ kỹ nào đó... Sự thiếu vắng các lý thuyết nghệ thuật đã không cho người đi học có cơ hội nhìn lại, và "vĩnh viễn" không hiểu gì về yếu tính của nghệ thuật, tinh thần của người nghệ sĩ... Ý thức sáng tạo, do đó, trở nên mù mờ, và cả tư cách nghệ sĩ, cũng trở nên mơ hồ...

 

Họa sĩ Việt Nam, đến giờ, nhìn chung, vẫn là cái gì hết sức "dở dang", "non nớt" thậm chí còn có lúc "kỳ khôi"! Tài hoa và sự khôn ngoan bẩm sinh, cùng lắm, chỉ giúp họ trở thành những người giỏi học lóm, giỏi bắt chước..., chứ không trở thành những quyền năng sáng tạo thực sự!

 

Bởi vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên, khi thành công trên thị trường nghệ thuật, quanh qua quẩn lại, chỉ toàn là những họa sĩ "chỉ có vài chiêu" cóp nhặt hay tổng hợp từ đâu đó.

 

Hãy thử nhìn lại một cách hệ thống tác phẩm của những tên tuổi họa sĩ "ăn khách" xưa nay như Bùi Xuân Phái, Đặng Xuân Hòa, Đào Hải Phong, Thành Chương, Lê Thiết Cương, Hồng Việt Dũng, Lê Thanh Sơn, Bùi Hữu Hùng, Nguyễn Thanh Bình, Võ Tá Hùng, Lê Kinh Tài, Phương Quốc Trí v.v... xem mỗi người thực sự có mấy "chiêu"?

 

Sẽ mất thì giờ vô ích nếu phải bỏ công phân tích những "chiêu vặt" của những họa sĩ này như thế nào và lấy từ đâu ra. Mọi người, không cần tinh ý lắm, cũng có thể nhận ra mà!

 

võ-vẽ

Mỗi khi xem những bức tranh này của Nguyễn Thanh Bình, lần nào, tôi cũng nhớ đến ông anh họ (nói ở trên) của mình. Rất tài hoa. Nhưng sự sáng tạo ở đây là gì? Tất cả chỉ có một "chiêu", còn lại, chỉ là tài biến báo. Khi nói về chuyện võ nghệ, ông anh họ tôi vẫn hay nói: "Võ nghệ gì anh. Cậu Tân nhà cậu mới là võ sĩ. Anh chỉ là vài miếng để tồn tại thôi!". Giá như tôi cũng nghe Nguyễn Thanh Bình (và những người có cách vẽ như anh) nói những điều tương tự như thế, thì có lẽ, từ lâu, mỗi lần gặp anh tôi đã phải cúi đầu bái phục...!

 

 

Tiếc rằng, cả nền văn hóa mỹ thuật Việt Nam như nói ở trên, xem ra đang tù mù mọi sự. Và, có lẽ, còn tù mù lâu!

 

 

(Còn nữa: bài 4: Tù mù chuyện "tu họa" đến "tu thân")

 

 

Nguyên Hưng

 

 

 

(1) Từ chuyện võ đến chuyện vẽ - hay chuyện làm thế nào để trở thành một họa sĩ ăn khách. (Kỳ 1): 

http://nguhu.blogspirit.com/archive/2011/01/15/t%E1%BB%AB...

 

(2) Từ chuyện võ đến chuyện vẽ - hay chuyện làm thế nào để trở thành một họa sĩ ăn khách. (Kỳ 2): 

http://nguhu.blogspirit.com/archive/2011/01/20/t%E1%BB%AB...

 

Loạt này, còn có các bài:

 

IV: Tù mù chuyện "tu họa" với "tu thân";

V: Từ chuyện bảo tồn võ dân tộc đến chuyện chấn hưng mỹ thuật;

VI: học hình họa như luyện thân pháp;

VII: học bố cục như luyện quyền pháp;

VIII: màu sắc với tâm đạo;

IX: chất liệu như là vũ khí;

X: Võ cương và võ nhu, và những cách tiếp cận hiện thực khác nhau trong nghệ thuật...;

XI: Pháp thiền trong võ đạo và trong nghệ thuật-vũ trụ tại tâm;  

v.v…


13.08.2011

Thư gởi các nghệ sĩ - Gioan Phaolô II

Bức thư này chứa đựng nội dung phong phú và sâu sắc về giá trị của cái đẹp trong đời sống con người và đời sống Kitô hữu vì Thiên Chúa là nguồn của chân-thiện-mỹ. Người tín hữu chúng ta, nhất là các vị lãnh đạo Giáo Hội, từ xưa đến nay để ý rất nhiều đến điều tốt, điều đúng, nhưng hình như chúng ta chưa quan tâm đủ đến cái đẹp. Bức Tông thư cho ta hiểu rõ hơn về vai trò và ơn gọi của người nghệ sĩ thuộc đủ mọi lãnh vực của nghệ thuật và văn hoá trong việc biểu dương cái đẹp và hiểu rõ hơn mối quan hệ của người nghệ sĩ với đức tin, với tôn giáo, với mầu nhiệm của Thiên Chúa làm người. Bức Tông thư cũng khuyến khích mọi người quan tâm hơn nữa đến mỹ thuật để học hỏi, tự đào tạo mình và đào tạo người khác, để họ có thể trình bày vẻ đẹp của Thiên Chúa ra cho con người chiêm ngưỡng. 


Có thể nói bức Tông thư chính là bài học tóm tắt cơ bản giáo trình về Mỹ Thuật Thánh cho người học trò của Thầy Giêsu trong ngôi trường đào tạo Mỹ Thuật của Người. 


(Lm Phêrô Đ.X.T. chuyển dịch)

 


Kính gởi tất cả những ai đang miệt mài tìm kiếm những sự "hiển lộ" mới của vẻ đẹp để hiến tặng cho thế giới những công trình sáng tạo ấy như món quà của các nghệ sĩ. 


"Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp" (St 1,31). 

 


1. Nghệ sĩ, hình ảnh của Thiên Chúa Tạo Hoá 

      

Không ai cảm nhận sâu sắc hơn các bạn, những nghệ sĩ, những nhà sáng tạo tài tình của cái đẹp, sự rung động tình cảm (pathos) mà Thiên Chúa đã cảm nhận khi nhìn công trình do tay mình tạo dựng vào thuở khai nguyên vũ trụ. Thoáng tình cảm ấy cũng thường sáng lên trong đôi mắt các bạn, khi các bạn cũng như các nghệ sĩ của mọi thời đại bị cuốn hút trước sức mạnh kín đáo của âm thanh và lời nói, của màu sắc và hình dáng, khi các bạn thán phục trước công trình mà mình đã được cảm hứng tạo ra. Các bạn cảm thấy như trong đó vang vọng lại mầu nhiệm sáng tạo mà Thiên Chúa, Đấng sáng tạo duy nhất của muôn loài, muốn các bạn tham gia một cách nào đó. 


         

Chính vì thế, theo tôi, có lẽ không có lời nào đẹp hơn bản văn của sách Sáng Thế nên được dùng để mở đầu lá thư này, lá thư mà tôi muốn gởi đến các bạn, những người tôi cảm thấy có liên hệ rất mật thiết do những kinh nghiệm xưa kia của mình, đã từng ghi dấu sâu đậm lên cuộc đời tôi. Khi viết lá thư này, tôi muốn đi tiếp con đường đối thoại rất kết quả giữa Giáo Hội và các nghệ sĩ trong suốt 2000 năm qua và nay, trước thềm thiên niên kỷ thứ ba, vẫn đang hứa hẹn rất nhiều cho tương lai. 


         

Thật vậy, cuộc đối thoại này không phải chỉ xuất phát từ một sự tình cờ trong lịch sử hay vì một nhu cầu thực tiễn nào đó, nhưng nó bắt nguồn sâu xa từ trong yếu tính của kinh nghiệm tôn giáo lẫn trong bản chất của việc sáng tạo nghệ thuật. Trang đầu tiên của Kinh Thánh đã giới thiệu Thiên Chúa như một khuôn mẫu cho tất cả những ai đang tạo ra một tác phẩm: một nghệ nhân chính là hình ảnh của Thiên Chúa Tạo Hoá. Quan hệ này càng thấy rõ hơn trong tiếng Ba Lan: có một mối liên hệ về từ vựng giữa chữ "stwórca" (người sáng tạo) và "twórca" (nghệ nhân). 
          

"Người sáng tạo" và "nghệ nhân" khác nhau như thế nào? Người sáng tạo là người mang tới sự hiện hữu, đưa một sự gì đó ra khỏi cõi hư vô, như ngạn ngữ Latinh thường nói: "ex nihilo sui et subjecti" (từ hư vô của mình và của chủ thể), và hiểu cho chặt nghĩa thì đây là cách hoạt động của một mình Đấng Tối Cao. Trái lại, "nghệ nhân" sử dụng một vật gì đó đã có, rồi cho nó một hình dạng và một ý nghĩa. Đây là cách hoạt động riêng của con người, một hữu thể đã được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Thật vậy, sau khi nói rằng Thiên Chúa sáng tạo nên người đàn ông và người đàn bà "theo hình ảnh của Ngài" (x. St 1,27), Kinh Thánh nói thêm Thiên Chúa đã trao phó cho họ nhiệm vụ thống trị mặt đất (x. St 1,28). Chuyện này xảy ra vào ngày cuối cùng của công trình sáng tạo (x. St 1,28-31). Còn những ngày trước, đánh dấu nhịp độ khai sinh của vũ trụ, Giavê đã tạo dựng vũ trụ. Sau cùng, Ngài mới tạo dựng con người như hoa quả cao quý nhất trong kế hoạch sáng tạo của Ngài. Ngài bắt thế giới hữu hình phải thần phục con người, làm địa bàn bao la cho con người thi thố khả năng phát minh của mình. 
           

Bởi đó, Thiên Chúa cho con người hiện hữu, giao cho con người nhiệm vụ của những nghệ nhân. Chính qua "hoạt động sáng tạo nghệ thuật" ấy mà hơn bao giờ hết, con người cho thấy mình "giống Thiên Chúa". Con người hoàn thành nhiệm vụ này xuất sắc nhất là khi uốn nắn "chất thể" kỳ diệu hay nhân tính của mình và khi thi hành quyền làm chủ một cách sáng tạo trên thế giới chung quanh. Với ánh mắt yêu thương, Nhà Nghệ Sĩ thần linh kia đã chuyển giao cho người nghệ sĩ nhân loại một chút óc khôn ngoan siêu phàm của mình, cho người này chia sẻ quyền lực sáng tạo của mình. Dĩ nhiên, đây là một sự chia sẻ mà vẫn giữ nguyên khoảng cách vô cùng giữa Đấng Tạo Hoá và thụ tạo, như hồng y Nicholas thành Cusa đã nói rõ: "Nghệ thuật sáng tạo, tuy là kho tàng lớn cho linh hồn tận hưởng, nhưng không thể đồng hoá với một nghệ thuật căn bản là chính Chúa; nó chỉ là một phần nghệ thuật ấy được thông ban và chia sẻ lại"[1]. 
            

Chính vì thế, càng ý thức "món quà" Chúa tặng cho mình, các nghệ sĩ càng có cơ hội nhìn mình và toàn thể thụ tạo với cặp mắt chiêm ngưỡng và biết ơn, đồng thời dâng lên Chúa lời ngợi khen. Đây là con đường duy nhất đưa họ tới chỗ hiểu bản thân mình, ơn gọi và sứ mạng của mình cách đầy đủ. 

 


2. Ơn gọi đặc biệt của các nghệ sĩ 
            

Không phải tất cả mọi người đều được gọi trở thành nghệ sĩ theo nghĩa riêng của hạn từ này. Nhưng, như sách Sáng Thế có nói, tất cả mọi người, nam lẫn nữ, đều được giao cho nhiệm vụ kiến thiết cuộc sống riêng của mình, tức là, theo một nghĩa nào đó, họ phải biến cuộc sống của mình thành một tác phẩm nghệ thuật, một kiệt tác. 
            

Đúng là cần phải phân biệt hai khía cạnh của hình thức hoạt động ấy, nhưng cũng không được quên sự liên kết giữa hai khía cạnh ấy. Ai cũng thấy rõ sự khác nhau: làm tác giả các hoạt động của mình, trách nhiệm về giá trị luân lý của chúng là một việc; nhưng làm người nghệ sĩ, biết đáp ứng những yêu cầu của nghệ thuật và trung thành chấp hành những mệnh lệnh riêng của nghệ thuật là một việc khác[1]. Đây là động cơ giúp các nghệ sĩ có thể sản sinh ra những vật thể, không có liên hệ gì với tính cách luân lý của họ. Ở đây chúng ta không nói tới việc uốn nắn bản thân mình, đào tạo nhân cách của mình, mà chỉ đề cập tới việc thể hiện các khả năng sản sinh của mình, làm cho các ý tưởng mà mình đã thai nghén trong tâm trí có được một hình thức nghệ thuật nào đó. 
            

Phân biệt khía cạnh luân lý với khía cạnh nghệ thuật là điều rất quan trọng, nhưng liên kết chúng với nhau cũng là điều quan trọng không kém. Cái này chi phối cái kia một cách sâu xa. Khi sản xuất ra một tác phẩm, người nghệ sĩ bộc lộ con người mình nhiều đến nỗi tác phẩm ấy trở thành nơi duy nhất tiết lộ con người thật của mình, cho biết họ là gì và làm sao thể hiện được vai trò ấy. Có vô số thí dụ cho thấy điều này trong lịch sử nhân loại. Khi hình thành một kiệt tác, người nghệ sĩ không những làm cho tác phẩm ấy xuất hiện, mà còn tiết lộ con người mình cách nào đó. Người nghệ sĩ nhìn thấy nghệ thuật làm cho sự phát triển tâm linh của mình vừa có một chiều kích mới vừa có được một cách diễn tả hết sức đặc biệt. Thông qua tác phẩm của mình, người nghệ sĩ trò chuyện và trao đổi với người khác. Thế nên, lịch sử nghệ thuật không phải chỉ là lịch sử của các tác phẩm đã được làm ra, mà còn là lịch sử của những con người. Các tác phẩm nghệ thuật nói cho ta biết tác giả của chúng, đời sống nội tâm của họ và những sự độc đáo họ đóng góp được cho lịch sử văn hoá. 

 


3. Ơn gọi của nghệ thuật trong việc phục vụ cái đẹp 
           

Một thi hào Ba Lan nổi tiếng, là Cyprian Norwid, đã viết "vẻ đẹp thì làm ta phấn khởi lao động, còn lao động thì nâng ta lên cao"[1]. 
           

Cái đẹp là một đề tài không thể thiếu được trong bất cứ bài luận bàn nào về nghệ thuật. Điều ấy đã được nói tới khi tôi lưu ý các bạn rằng Chúa đã sung sướng nhìn xem thụ tạo. Khi nhận thức tất cả mọi sự mình đã tạo dựng đều tốt, Chúa cũng thấy chúng đẹp nữa[1]. Quan hệ giữa tốt và đẹp bắt ta phải suy nghĩ thế nào cho đúng. Theo một nghĩa nào đó, đẹp là hình thức bên ngoài của cái tốt, cũng như tốt là điều kiện siêu hình của cái đẹp. Người Hy Lạp rất hiểu rõ việc này, nên kết hợp hai khái niệm ấy, tạo ra một thuật ngữ bao gồm cả hai khái niệm, đó là "kalok-agathia" hay "tốt-đẹp". Về điều này Platô cũng viết: "Cái tốt có ảnh hưởng thế nào là nằm trong cái đẹp". 


           

Chính khi sống và hoạt động, con người mới thấy mình có quan hệ với cái đang có, với sự thật và với điều tốt. Người nghệ sĩ có một quan hệ rất đặc biệt với cái đẹp. Nói cho đúng, cái đẹp là ơn gọi Tạo Hoá đã ban cho người nghệ sĩ qua hình ảnh họ được Chúa trao cho "nén bạc nghệ thuật". Chắc chắn, đây cũng là nén bạc phải làm cho sinh hoa kết quả, đúng theo ý nghĩa của dụ ngôn các nén bạc. 
            

Đến đây, chúng ta đụng phải một điểm căn bản. Những ai nhận thấy nơi mình có tia sáng thần linh ấy, tức là ơn gọi làm nghệ sĩ (làm thi sĩ, văn sĩ, nhà điêu khắc, nhà kiến trúc, nhà nhiếp ảnh, nhạc sĩ,…) cũng sẽ cảm thấy mình có bổn phận không được để hoang phí tài năng ấy mà phải phát triển, để đem ra phục vụ nhân loại. 

 


4. Nghệ sĩ và công ích 
         

Xã hội cần các nghệ sĩ, như vẫn cần các nhà khoa học, kỹ thuật, lao động, chuyên nghiệp, chứng nhân đức tin, thầy cô, cha mẹ; các nghệ sĩ là những người giúp cá nhân được phát triển và cộng đoàn được tăng trưởng nhờ vào nghệ thuật tối cao là "nghệ thuật giáo dục". Trong toàn cảnh văn hoá rộng lớn của mỗi dân tộc, các nghệ sĩ có một chỗ đứng đặc biệt. Khi nghe theo cảm hứng để sáng tạo ra các tác phẩm vừa đáng giá vừa đẹp đẽ, các nghệ sĩ chẳng những đã làm giàu cho di sản văn hoá của quốc gia và nhân loại, mà còn phục vụ công ích qua sự phục vụ xã hội hết sức đặc biệt của mình. 

           

Ơn gọi đặc biệt của mỗi nghệ sĩ sẽ quyết định lãnh vực nào phải chọn để phục vụ, những nhiệm vụ nào phải đảm nhận, công tác khó nhọc nào phải gánh vác và trách nhiệm nào phải thi hành. Những nghệ sĩ ý thức tất cả các điều này cũng đều rõ mình phải lao động, nhưng không để mình bị lôi vào cuộc săn tìm những vinh quang hão huyền, những sự nổi tiếng rẻ tiền, càng không để mình bị hướng dẫn bởi sự tính toán lợi lộc cá nhân nào. Bởi đó, có cả một nền đạo đức, thậm chí một "linh đạo" cho việc làm nghệ thuật, để đóng góp cho đời sống và sự tiến bộ của một dân tộc. Đây chính là điều mà Cyprian Norwid muốn ám chỉ khi nói rằng: "Vẻ đẹp thì làm ta phấn khởi lao động, còn lao động thì nâng ta lên cao". 

 


5. Nghệ thuật và mầu nhiệm Ngôi Lời làm người 
           

Luật Cựu Ước đã công khai nghiêm cấm hình dung "Thiên Chúa vô hình và khôn tả" bằng những "hình tạc hay tượng đúc" (Đnl 27,15), vì Thiên Chúa siêu vượt trên mọi sự hình dung bằng vật chất: "Ta sao thì Ta vậy" (Xh 3,14). Tuy nhiên, qua mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã trở nên hữu hình: "Khi thời gian đã đủ, Thiên Chúa đã sai Con Ngài xuống, sinh ra từ một phụ nữ" (Gl 4,4). Thiên Chúa đã trở thành con người nơi Đức Giêsu Kitô; vì thế, Đức Giêsu Kitô đã trở thành "tâm điểm cần tham chiếu nếu muốn hiểu biết bí mật về kiếp sống con người, về thế giới đã được tạo thành và về chính Thiên Chúa"[1]. 
            

Sự hiển lộ tuyệt vời của "Thiên Chúa Mầu Nhiệm" ấy vừa là một nguồn động viên, vừa là một lời thách đố đối với người Kitô hữu, cũng như đối với người làm công tác sáng tạo nghệ thuật. Chính từ mầu nhiệm Nhập Thể ấy mà cái đẹp đã triển nở, sau khi rút lấy nhựa sống từ chính mầu nhiệm này. Khi trở thành người, Con Thiên Chúa đã mang vào trong lịch sử nhân loại tất cả kho tàng Tin Mừng gồm những gì là chân, là thiện và kèm theo đó, Ngài vén mở cho ta thấy một chiều kích mới của cái đẹp, một điều mà Tin Mừng có dư dật. 


             

Như thế, Kinh Thánh đã trở thành một loại "kho tàng ngữ vựng bao la" (Paul Claudel) và một "tập bản đồ mô tả bằng hình tượng" (Marc Chagall) cho văn hoá và nghệ thuật Kitô giáo khai thác. Khi đọc Cựu Ước trong ánh sáng của Tân Ước, Cựu Ước sẽ cung cấp cho chúng ta những nguồn cảm hứng bất tận. Từ những câu chuyện về sự Sáng Tạo và Tội, Đại Hồng Thủy, lịch sử các Tổ Phụ, các biến cố chung quanh cuộc Xuất Hành, cho đến nhiều sự việc và nhân vật khác trong lịch sử cứu độ, Kinh Thánh quả là đã châm ngòi cho óc tưởng tượng của các hoạ sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, nhà biên kịch và làm phim hoạt động. Chỉ cần lấy một thí dụ thôi, một khuôn mặt như Gióp, với nỗi băn khoăn và thắc mắc không nguôi về đau khổ, đã và vẫn còn gây sự chú ý không phải chỉ về mặt triết học mà cả về mặt văn chương và nghệ thuật. Rồi chúng ta phải nói sao đây về Tân Ước? Từ cuộc Hạ Sinh Đức Giêsu đến đồi Gôngôtha, từ cuộc Hiển Dung đến sự Phục Sinh của Người, từ những phép lạ đến bài giảng, cho đến những biến cố đã được thuật lại trong sách Công Vụ Tông Đồ hay đã được tiên báo trong sách Khải Huyền trong bối cảnh cánh chung, biết bao nhiêu lần những lời lẽ của Thánh Kinh đã trở thành hình ảnh, âm nhạc và thi ca, nhằm gợi lại mầu nhiệm "Ngôi Lời nhập thể" bằng ngôn ngữ nghệ thuật. 
            

Trong lịch sử văn hoá của loài người, tất cả những điều vừa kể đúng là một chương sử rất phong phú của niềm tin và cái đẹp. Hơn ai hết, các tín hữu đã học được rất nhiều từ đó, làm lợi cho kinh nghiệm cầu nguyện và sống đạo của mình. Thật vậy, khi chưa mấy ai biết đọc và biết viết, nhiều người đã coi những cách trình bày tượng hình của Kinh Thánh là một phương thế cụ thể để học hỏi giáo lý[1]. Nhưng, dù tin hay không tin, ai ai cũng vẫn coi các tác phẩm nghệ thuật, được cảm hứng từ Thánh Kinh, là một cách suy tư về một mầu nhiệm khôn dò, đang bao trùm và ngự trị trên thế giới. 

 


6. Một sự liên minh hữu ích giữa Tin Mừng và nghệ thuật 
           

Mọi trực giác nghệ thuật chính hiệu đều vượt xa những gì giác quan nhận biết và một khi đã lọt được tới cái nằm đằng sau bộ mặt của thực tại, nó sẽ cố gắng giải thích mầu nhiệm kín ẩn của thực tại ấy. Bản thân trực giác này cũng nảy sinh từ nơi thẳm sâu của linh hồn con người, nơi đó ta gặp thấy con người đang khát khao tìm ra ý nghĩa cho cuộc đời của mình, đồng thời thoáng thấy vẻ đẹp cũng như sự thống nhất diệu kỳ của mọi sự. Người nghệ sĩ nào cũng nghiệm thấy có một quãng cách không sao vượt qua được giữa tác phẩm do tay mình làm ra, dù có thành công đến đâu, và vẻ đẹp tuyệt vời mà mình đã thoáng thấy trong một lúc được cảm hứng sáng tác: những gì họ cố gắng diễn tả qua tranh vẽ, tượng điêu khắc, tác phẩm sáng tác đều chẳng hơn gì một tia sáng phát ra từ ánh sáng đã từng loé lên trước đôi mắt tinh thần của họ trong một khoảnh khắc nào đó. 
             

Các tín hữu không thấy có gì là lạ trong việc đó, vì họ biết rằng họ mới chỉ thoáng thấy vòm ánh sáng, bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Vì thế, có gì là lạ đâu khi nó làm cho tâm trí ta choáng ngợp trong giây lát, khiến cho tâm trí ta chẳng còn cách nào khác hơn là đáp lại? Hơn ai hết, các nhà nghệ sĩ chân chính rất sẵn sàng nhìn nhận những giới hạn của mình và lấy lời thánh Phaolô sau đây làm của mình: "Thiên Chúa không ngự trong các ngôi đền do bàn tay con người làm ra" và vì thế "chúng ta không được nghĩ rằng thần minh cũng tựa như vàng bạc hay gỗ đá, một sản phẩm do nghệ thuật và trí tưởng tượng của con người làm ra" (Cv 17,24.29). Nếu cái thực tại sâu xa của vạn vật đã luôn luôn "vượt xa" khả năng nhận thức của con người như thế, thì huống nữa là Thiên Chúa trong mầu nhiệm sâu xa khôn dò của Ngài! 
             

Sự hiểu biết do đức tin mang lại thuộc về một loại khác: nó giả thiết là đã có sự gặp gỡ cá nhân giữa ta với Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Tuy nhiên, sự hiểu biết này cũng có thể được trực giác nghệ thuật làm giàu lên. Một thí dụ hùng hồn cho thấy sự chiêm ngắm của nghệ thuật đã được người nghệ sĩ nâng cao lên trong đức tin như thế nào, đó là các tác phẩm của Fra Angelico. Về mặt này, ta còn phải kể đến lời "ngợi ca" xuất thần mà thánh Phanxicô Assisi đã hai lần lặp lại trong bản "hiến chương nhỏ" do ngài biên soạn sau khi nhận các dấu thánh của Đức Kitô trên núi La Verna: "Ôi, Ngài là vẻ đẹp. Ôi, Ngài là vẻ đẹp!". Thánh Bonaventura đã chú giải: "Trong tất cả các vật đẹp đẽ, thánh nhân chiêm ngắm thấy Đấng đẹp vô cùng, và theo dấu chân của Đấng ấy để lại nơi các thụ tạo, thánh nhân đã đi theo Người Yêu ấy khắp mọi nơi"[1]. 
            

Một cách tương tự để tiếp cận Thiên Chúa là của nền linh đạo Đông Phương, mô tả Đức Kitô là "người đẹp vô cùng, người có một vẻ đẹp vượt xa mọi người trên trần gian"[1]. Macariô Cả nói tới vẻ đẹp của Chúa Phục Sinh, một vẻ đẹp có sức biến đổi và giải thoát, như sau: "Linh hồn nào được chiếu sáng trọn vẹn bởi vẻ đẹp khôn tả và sáng láng của Đức Kitô cũng đầy tràn Thánh Thần. đến nỗi chỉ còn thấy mắt, ánh sáng và gương mặt"[1]. 
             

Mọi hình thức nghệ thuật chân chính, theo cách riêng của nó, đều là đường dẫn ta đến với thực tại sâu thẳm của con người và thế giới. Bởi vậy, đó chính là một phương cách rất hiệu quả giúp ta đến với thế giới đức tin, cho kinh nghiệm sống của con người có được ý nghĩa cuối cùng của nó. Đó chính là lý do giải thích tại sao chân lý trọn vẹn của Tin Mừng ngay từ đầu đã có sức khơi dậy sự quan tâm thích thú của các nghệ sĩ, những người do bản tính tự nhiên vốn rất nhanh nhạy trước các sự "hiển lộ" của cái đẹp bên trong các sự vật. 

 


7. Từ thuở ban đầu 
           

Nền nghệ thuật mà Kitô Giáo gặp được trong những ngày đầu tiên của mình là kết quả đã chín muồi của thế giới thượng cổ, biết phối hợp các điều luật thẩm mỹ và biết biểu hiện các giá trị của thế giới ấy. Không phải chỉ trong cách sống và suy nghĩ, mà cả trong lãnh vực nghệ thuật, đức tin luôn buộc người Kitô hữu phải biết biện biệt, không được phép đón nhận di sản văn hoá ấy một cách dễ dãi, thiếu phê bình. Bởi đó, nghệ thuật cảm hứng từ Kitô giáo đã khai sinh một cách khiêm tốn, chỉ để phục vụ nhu cầu của các tín hữu là dùng các dấu hiệu có nguồn gốc Thánh Kinh để diễn tả các mầu nhiệm đức tin và để tạo một "bộ mã biểu tượng" giúp phân biệt và xác định mình, nhất là trong các thời kỳ bị bách hại. Ai lại không nhớ những biểu tượng giúp khai sinh nghệ thuật tạo hình và hoạ ảnh? Hình con cá, ổ bánh mì, người chăn chiên,... rồi một cách nào đó không biết, đã trở thành những dấu vết đầu tiên của một nền nghệ thuật mới, nhắc ta nhớ tới các mầu nhiệm. 
           

 

Khi được chiếu chỉ của vua Constantinô cho phép xưng đạo một cách hoàn toàn tự do, các Kitô hữu đã dùng nghệ thuật làm phương thế đặc biệt để diễn tả đức tin. Các vương cung thánh đường huy hoàng bắt đầu mọc lên, trong đó ta gặp lại các quy tắc kiến trúc của thế giới ngoại giáo, đồng thời điều chỉnh chúng sao cho đáp ứng các yêu cầu của hình thức thờ phượng mới. Làm sao chúng ta lại không thể nhận ra vương cung thánh đường thánh Phêrô ngày trước và vương cung thánh đường thánh Gioan Lateranô, cả hai đều do vua Constantinô tài trợ? Hay thánh đường thánh Sophia ở Constantinopoli là do hoàng đế Justinianô xây dựng theo nghệ thuật rất huy hoàng của Byzantin? 
           

Nếu kiến trúc là phác hoạ ra không gian thờ phượng, thì dần dần nhu cầu chiêm ngắm mầu nhiệm rồi trình bày giản dị cho quần chúng bình dân hiểu, bắt ta sử dụng tới những hình thức nghệ thuật nguyên sơ của hội hoạ và điêu khắc. Ta cũng bắt đầu thấy một số yếu tố nguyên sơ của nghệ thuật lời nói và âm thanh. Trong số những đề tài được thánh Augustinô làm việc, ta thấy có bài viết "về âm nhạc". Còn thánh Hilariô thành Poitiers, thánh Ambrosiô, Prudentiô, Ephrem người Syria, thánh Gregoriô người Nazianzô và Paulinô người Nola, (đó là mới chỉ kể một số), tất cả các vị ấy đều đẩy mạnh thi ca Kitô giáo với chất lượng cao không phải chỉ về mặt thần học mà cả về mặt văn chương. Trong các tác phẩm thi ca của mình, các vị ấy đánh giá cao những hình thức văn chương kế thừa từ các tác giả cổ điển, nhưng luôn lấy chất liệu nguyên tuyền từ Tin Mừng nuôi sống mình, như Paulinô thành Nola đã nhận xét một cách hết sức chính xác: "Nghệ thuật duy nhất của chúng ta là đức tin và nền âm nhạc duy nhất của chúng ta là Đức Kitô"[1]. Ít lâu sau, thánh Gregoriô Cả đã biên soạn cuốn "Antiphonarium" (sách Điệp Ca) và như vậy, ngài đã đặt nền tảng cho nền thánh nhạc độc đáo nhất của Kitô giáo được phát triển; nền thánh nhạc này đã được đặt tên theo tên của ngài. Trải qua nhiều thế kỷ, nhạc Gregoriô, với những giai điệu được cảm hứng, đã trở thành âm nhạc của Giáo Hội trong những lúc cử hành các mầu nhiệm thánh theo phụng vụ. Thế là "cái đẹp" đã được ghép với "cái thật", giúp các tâm hồn được nâng lên khỏi thế giới giác quan và đi vào thế giới vĩnh cửu. 
             

Trong cuộc hành trình ấy cũng có những lúc sóng gió. Nói cho rõ hơn, trong những thế kỷ đầu tiên đã có một cuộc tranh luận rất gay gắt về vấn đề miêu tả các mầu nhiệm Kitô giáo, thường được biết đến trong lịch sử là "cuộc khủng hoảng do chủ nghĩa bài trừ ảnh tượng gây ra". Các hình ảnh thánh, đã được sử dụng rộng rãi trong đời sống đạo của người Kitô hữu, bỗng trở thành đối tượng cho hai bên tranh cãi quyết liệt. Công đồng, nhóm họp tại Nicea năm 787, nhìn nhận sự hợp pháp của các ảnh tượng và việc tôn kính ảnh tượng, đúng là một biến cố lịch sử không chỉ đối với đức tin mà cả đối với văn hoá. Luận cứ quyết định mà các giám mục dựa vào để giải quyết cuộc tranh cãi là mầu nhiệm Nhập Thể: nếu Con Thiên Chúa đã đến trong thế giới của các thực tại hữu hình (nhân tính của Ngài chính là cầu nối thế giới hữu hình và thế giới vô hình), thì, một cách loại suy, ta có thể dùng các hình ảnh diễn tả mầu nhiệm ấy trong phạm vi các dấu chỉ để nhắc nhớ mầu nhiệm trong giác quan. Ảnh tượng thánh được tôn kính thì đó không phải là vì chính nó, nhưng nó muốn dẫn ta đến chủ thể mà ảnh tượng ấy diễn tả[1].

 

8. Thời Trung Cổ 
         

 

Trong các thế kỷ sau, người ta chứng kiến nghệ thuật Kitô giáo được phát triển mạnh mẽ. Ở Đông Phương, nghệ thuật ảnh tượng thánh tiếp tục phát triển, dựa vào các chuẩn mực thần học và thẩm mỹ, rất súc tích ý nghĩa và được hậu thuẫn bởi niềm xác tín, theo một nghĩa nào đó thì, "ảnh tượng là một bí tích". Tương tự với những gì diễn ra trong bí tích, các ảnh tượng làm cho mầu nhiệm Nhập Thể như xuất hiện lại dưới góc cạnh này hay góc cạnh khác. Chính vì thế, vẻ đẹp của ảnh tượng được đánh giá cao nhất là trong nhà thờ nào ở đó, giữa bóng tối ta thấy rất nhiều tia sáng lung linh xuất hiện bên cạnh những ngọn đèn dầu. Như Pavel Florensky đã nói: "Dưới ánh sáng nhợt nhạt ban ngày, ta thấy những ảnh tượng dát vàng ấy thật thô kệch, nặng nề, vô nghĩa, vô dụng, nhưng dưới ánh sáng đậm đà của một ngọn đèn hay một cây nến, ta thấy chúng như sống dậy, lấp lánh với vô vàn tia sáng, khi ở đây, lúc ở kia, làm ta nghĩ tới những ánh sáng khác, không thuộc thế giới này nhưng chan hoà trên trời cao"[1]. 
           

Ở Tây Phương, các nghệ sĩ khởi đi từ những quan điểm khác nhau, đồng thời dựa vào những quan điểm ngầm của thế giới văn hoá đương thời. Trong kho tàng nghệ thuật có từ nhiều thế kỷ ấy, ta thấy rất nhiều tác phẩm linh thiêng có nguồn hứng rất cao cả, mà đến nay khán giả vẫn còn trầm trồ thán phục. Trước hết là những toà nhà to lớn dùng để làm việc thờ phượng, trong đó mục tiêu thực dụng luôn kết hợp với ý đồ sáng tạo, xuất phát từ sự cảm nhận cái đẹp và trực giác được các mầu nhiệm. Từ kho tàng này ta có được rất nhiều kiểu kiến trúc thời danh trong lịch sử nghệ thuật. Như kiểu Romanesque vừa hùng dũng vừa giản dị, nơi các thánh đường và các tu viện, đã dần dần biến thành kiểu Gôtíc thật huy hoàng, tráng lệ. Những dáng vẻ này không chỉ phản ảnh thiên tài của nhà nghệ sĩ mà còn cho thấy tâm hồn của cả một dân tộc. Kết hợp ánh sáng và bóng tối, những hình dáng khi thì đồ sộ lúc lại mảnh mai, đó không phải chỉ là quan điểm về sự kết cấu, mà còn nói lên sự căng thẳng rất đặc thù của những kinh nghiệm về Thiên Chúa, một mầu nhiệm vừa "khả uý" vừa "khả ái". Làm sao ta có thể tóm tắt sức sáng tạo của bao nhiêu thế kỷ thời Trung Cổ bằng một vài gợi ý vắn tắt về mỗi hình thức nghệ thuật? Cả một nền văn hoá đã thấm nhuần Tin Mừng, dù có những giới hạn không thể tránh được của tất cả những gì là nhân loại. Nếu thần học lúc ấy đã sản sinh ra bộ "Tổng luận thần học" của Tôma thì nghệ thuật thánh đường cũng khuôn đúc các chất liệu xây dựng sao cho chúng có thể giúp ta thờ phượng mầu nhiệm Thiên Chúa, còn các thi sĩ trác tuyệt như Dante Alighieri thì sáng tác ra "bài thơ thánh, bài thơ do trời và đất bắt tay nhau tạo thành", như chính ông đã mô tả khi nói về tập thơ "Vở kịch thần linh" (Divine Comedy). 

 


9. Chủ nghĩa nhân bản và thời Phục Hưng 
          

Bầu khí văn hoá thuận lợi, đưa tới sự phát triển đặc biệt của chủ nghĩa nhân bản và thời Phục Hưng, cũng ảnh hưởng nhiều tới cung cách các nghệ sĩ thời ấy làm việc với các đề tài tôn giáo. Dĩ nhiên, những cảm hứng và văn phong của họ rất đa dạng, ít là nơi các nghệ sĩ xuất sắc. Nhưng ở đây, tôi không muốn nhắc lại những điều mà quý vị là các nghệ sĩ đã quá rõ. Tôi viết thư này từ cung điện của giáo triều, là nơi chứa đựng cả một lô kiệt tác có lẽ độc nhất vô nhị trên thế giới này. Chính vì thế, tôi muốn nhường lời cho các nghệ sĩ thượng đẳng đã biểu dương thiên tài phong phú của mình tại nơi này, với những tác phẩm mang chiều sâu tâm linh rất đáng kể. Từ nơi này, quý vị có thể nghe thấy tiếng nói của Michelangelo, người đã trình bày cả vở kịch và toàn bộ mầu nhiệm thế giới từ ngày Sáng Tạo tới ngày Chung Thẩm, tại nguyện đường Sistine: quý vị có thể nhìn thấy ở đó khuôn mặt của Chúa Cha, của Đức Kitô Thẩm Phán và của con người đang vất vả tiến bước từ thuở khai sinh lịch sử đến khi hoàn tất. Ở đây, quý vị cũng nghe thấy tiếng nói của một thiên tài vừa tinh tế vừa sâu sắc là Raphael, người đã vận dụng các tranh vẽ của mình, nhất là tác phẩm "Tranh cãi" (Dispute) trưng bày ở Tối Cao Pháp Viện Toà Thánh, để diễn tả mầu nhiệm mặc khải của Thiên Chúa Ba Ngôi: Ngài đã làm bạn với loài người trong bí tích Thánh Thể và soi sáng cho những câu hỏi và thắc mắc của trí khôn con người. Từ cung điện này hay từ vương cung thánh đường dành để kính nhớ vị Thủ Lãnh các tông đồ, hay từ hành lang bắt đầu từ thánh đường ấy vòng ra hai bên như đang mở tay tiếp đón toàn thể gia đình nhân loại, chúng ta còn nghe được tiếng nói của Bramante, Bernini, Borromini, Maderno, (đó là chỉ kể tên các nghệ sĩ quan trọng), tất cả đều giúp chúng ta hình dung ra một mầu nhiệm đã làm cho Giáo Hội trở thành cộng đồng có khả năng đón tiếp mọi người, trở thành người mẹ và người bạn đường của tất cả những ai đang đi tìm Chúa. 
           

Cả quần thể kỳ lạ này chính là một biểu hiện hết sức mạnh mẽ của nghệ thuật thánh, một nghệ thuật đã đạt tới đỉnh cao bất tử của mỹ thuật và tôn giáo. Một điều càng lúc càng ghi dấu trên nghệ thuật thánh, do ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân bản và thời Phục Hưng, rồi sau đó là của các xu hướng văn hoá và khoa học nối gót nhau ra đời, chính là càng ngày người ta càng quan tâm tới tất cả những gì là của con người, tới thế giới và tới thực tế lịch sử. Tự bản thân, quan tâm như thế chẳng có gì là nguy hiểm cho đức tin Kitô giáo, vì đức tin Kitô giáo cũng tập trung vào mầu nhiệm Nhập Thể và từ đó, chú ý tới sự đề cao mà Thiên Chúa dành cho con người. Tác phẩm của các nghệ sĩ đại tài nhắc tới trên đây là bằng chứng nói lên điều đó. Chỉ cần nghĩ tới cung cách Michelangelo trình bày vẻ đẹp của thân xác con người trong các tranh vẽ và các tượng điêu khắc của ông cũng đã đủ[1]. 
            

Ngay cả trong bầu khí đã thay đổi của những thế kỷ gần đây, khi mà một bộ phận xã hội đã tỏ ra dửng dưng với đức tin, nghệ thuật tôn giáo vẫn tiếp tục phát triển. Ta có thể thấy được điều này cách rộng rãi hơn, nếu không dừng lại với nghệ thuật tạo hình mà xét tới cả sự phát triển mạnh mẽ của thánh nhạc cũng trong thời kỳ ấy, hoặc dành riêng cho phụng vụ hoặc chỉ khai thác các đề tài tôn giáo. Không kể các nghệ sĩ đã coi thánh nhạc là bận tâm chủ yếu của mình, như Pier Luigi da Palestrina, Orlando di Lasso, Tomás Luis de Victoria, rất nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại như Handel, Bach, Mozart, Schubert, Beethoven, Berlioz, Liszt và Verdi, cũng đã cống hiến cho chúng ta những tác phẩm xuất thần trong lãnh vực này.

 


10. Nối lại cuộc đối thoại 
            

Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng trong kỷ nguyên hiện đại này, bên cạnh chủ nghĩa nhân bản của Kitô giáo đã không ngừng sản sinh ra những tác phẩm văn hoá và nghệ thuật quan trọng, còn có một thứ chủ nghĩa nhân bản khác đang dần dần khẳng định được vị trí của mình; chủ nghĩa này có đặc điểm là không đề cập đến Thiên Chúa hay nhiều khi chống đối lại Thiên Chúa. Tình hình này đôi khi đưa tới hiện tượng: chia rẽ thế giới văn hoá với thế giới đức tin, ít là ở chỗ nhiều nhà nghệ sĩ hiện nay đã bớt quan tâm tới các đề tài tôn giáo. 
            

Dẫu vậy, Giáo Hội vẫn không ngừng trân trọng giá trị của nghệ thuật. Ngay cả khi không phải là những cách diễn tả tôn giáo điển hình, nghệ thuật chân chính vẫn rất gần gũi với thế giới đức tin, đến nỗi ngay trong những tình huống văn hoá và Giáo Hội cách biệt nhau, nghệ thuật vẫn là cây cầu đưa ta đến với kinh nghiệm tôn giáo. Bao lâu nghệ thuật còn đi tìm cái đẹp, như hoa trái của một óc tưởng tượng biết vươn lên trên những chuyện hằng ngày, thì nghệ thuật tự bản chất vẫn là một con đường dẫn ta đến với những gì là mầu nhiệm. Ngay cả khi thăm dò tâm hồn con người tới những điểm tối sâu xa nhất hay những khía cạnh gây bất an nhất của sự xấu, một cách nào đó, các nghệ sĩ vẫn lên tiếng thay cho khát vọng được cứu rỗi của hết mọi người. 
             

Bởi vậy, không lạ gì khi thấy Giáo Hội đặc biệt quan tâm việc mở cuộc đối thoại với nghệ thuật và ý thức rất sâu sắc rằng trong thời đại chúng ta hiện nay cần phải có một sự liên minh mới với các nghệ sĩ, như vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là đức Phaolô VI đã kêu gọi trong bài diễn thuyết hùng hồn của ngài với các văn nghệ sĩ tại nhà nguyện Sistine ngày 7 tháng 5 năm 1964[1]. Từ sự cộng tác ấy, Giáo Hội hy vọng sẽ thấy lại sự "hiển lộ" của cái đẹp trong thời đại chúng ta, cũng như những đáp ứng thích hợp cho các nhu cầu riêng của cộng đồng Kitô hữu. 

 


11. Theo tinh thần của Công đồng Vatican II 
            

Công đồng Vatican II đã đặt nền tảng cho việc đổi mới mối quan hệ giữa Giáo Hội và văn hoá, kèm theo những hệ lụy trực tiếp rút ra từ đó cho thế giới nghệ thuật. Đây là một quan hệ trong tình bằng hữu, diễn ra trong cởi mở và đối thoại. Trong Hiến chế mục vụ "Vui mừng và Hy vọng", các nghị phụ Công đồng đã nhấn mạnh tầm "quan trọng rất lớn" của văn chương và nghệ thuật trong đời sống con người: "Các nghệ sĩ tìm cách thăm dò bản tính thật của con người, tìm hiểu các vấn đề và kinh nghiệm của con người khi con người cố gắng hiểu biết mình và hoàn thiện chính mình cùng với thế giới, tìm ra chỗ đứng của mình trong lịch sử và vũ trụ, mô tả niềm vui, nỗi khổ và cái được cái chưa của mình, với hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn"[1]. 
             

Dựa trên căn bản đó, vào cuối Công đồng, các nghị phụ đã có lời chào hỏi và hiệu triệu đối với các văn nghệ sĩ: "Thế giới chúng ta đang sống rất cần cái đẹp để không rơi vào thất vọng. Cái đẹp, cũng như sự thật, mang lại niềm vui cho tâm hồn con người và là hoa trái quý giá có thể chịu được sự sói mòn của thời gian, nối kết các thế hệ và đưa họ đến với nhau trong cùng một tâm tình cảm phục và ngưỡng mộ!"[1]. Trong tinh thần kính trọng sâu xa đối với cái đẹp như thế, hiến chế về Phụng Vụ đã nhắc lại sự thiện cảm của Giáo Hội đối với nghệ thuật và, cách riêng đối với nghệ thuật thánh, tức là "đỉnh cao" của nghệ thuật tôn giáo, Công đồng đã không ngần ngại coi các nghệ sĩ ấy là những người đang thi hành "một thừa tác vụ cao cả" khi các tác phẩm của họ phản ảnh vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa, giúp nâng cao tâm trí con người lên với Ngài[1]. Cũng nhờ các nghệ sĩ ấy mà "Thiên Chúa được mặc khải nhiều hơn, Tin Mừng được trở nên rõ ràng hơn cho tâm trí loài người"[1]. Trong viễn tượng này, không có gì là lạ khi cha Marie Dominique Chenu cho rằng nhà viết sử thần học kể như chưa làm xong nhiệm vụ khi không chú ý đủ tới các tác phẩm nghệ thuật, cả nghệ thuật văn chương lẫn nghệ thuật tạo hình, vì theo cách của mình, chúng "không chỉ là những công trình thẩm mỹ mà còn là những nguồn thần học thứ thiệt". 

 


12. Giáo Hội cần đến nghệ thuật 
            

Để truyền đạt sứ điệp mà Đức Kitô đã giao cho mình, Giáo Hội cần đến nghệ thuật. Nghệ thuật có nhiệm vụ là làm cho thế giới tinh thần, thế giới vô hình, thế giới Thiên Chúa trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay. Bởi đó, nghệ thuật phải chuyển dịch những gì tự chúng vốn không thể diễn tả được thành những ngôn từ có ý nghĩa. Nghệ thuật có một khả năng độc đáo là lấy một mặt này hay một mặt khác của sứ điệp, rồi chuyển dịch thành một cái gì đó có màu sắc, hình dáng và âm thanh, để nuôi dưỡng trực quan của những người đến xem hay đến nghe. Nghệ thuật làm việc này không phải bằng cách đánh mất đi giá trị siêu việt và hào quang mầu nhiệm của sứ điệp. 
              

Giáo Hội đặc biệt cần đến những người có thể làm công tác ấy trong lãnh vực văn chương và tạo hình, dùng được những khả năng vô tận của các hình ảnh và sức mạnh biểu tượng của chúng. Chính Đức Kitô cũng đã sử dụng rất nhiều hình ảnh trong các bài giảng của Ngài, cho theo kịp với ước nguyện của Ngài là trở thành hình tượng của Thiên Chúa vô hình, qua mầu nhiệm Nhập Thể. 
             

Giáo Hội cũng cần các nhạc sĩ. Biết bao tác phẩm linh thiêng đã được sáng tác qua nhiều thế kỷ do những người có cảm thức sâu sắc về mầu nhiệm! Lòng tin của biết bao tín hữu đã được nuôi dưỡng nhờ những giai điệu xuất phát từ tâm hồn các tín hữu khác, những giai điệu này hoặc đã được đưa vào phụng vụ hoặc được dùng để hỗ trợ cho việc thờ phượng thêm trang trọng. Qua các bài hát, người tín hữu nghiệm thấy lòng tin của mình lúc thì tưng bừng vui tươi, khi dào dạt yêu thương hay tin tưởng đợi chờ Thiên Chúa ra tay cứu độ. 
             

Giáo Hội cũng cần các nhà kiến trúc, vì Giáo Hội cần có những không gian cho dân Chúa tụ họp và cử hành các mầu nhiệm cứu độ. Sau những sự tàn phá kinh khủng do chiến tranh thế giới thứ hai gây ra và sau khi các đô thị lớn được mọc lên, có cả một thế hệ các kiến trúc sư đã chứng tỏ mình thừa sức đáp ứng các yêu cầu của việc thờ phượng Kitô Giáo, và cho thấy đề tài tôn giáo vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều mẫu thiết kế xây dựng ngày nay. Các kiến trúc sư ấy thường xây dựng các nhà thờ như những nơi thờ phượng và như những công trình nghệ thuật đích thực

 


13. Nghệ thuật có cần đến Giáo Hội không? 
           

Bởi đó, Giáo Hội rất cần đến nghệ thuật. Nhưng còn nghệ thuật có cần đến Giáo Hội không? Câu hỏi này có vẻ hơi khiêu khích. Nhưng, nếu hiểu cho đúng thì đó là một câu hỏi vừa chính đáng vừa sâu sắc. Các nghệ sĩ luôn tìm kiếm ý nghĩa tiềm ẩn của mọi sự và băn khoăn làm sao có thể diễn đạt được thế giới khôn tả ấy. Nếu vậy, làm sao ta lại không thấy rằng có một nguồn cảm hứng lớn là tôn giáo, quê hương của linh hồn được trao tặng cho các nghệ sĩ? Chẳng phải ta thấy tôn giáo là nơi đặt ra những câu hỏi riêng tư có tầm quan trọng sinh tử hay sao, đồng thời là nơi ta tìm được những câu trả lời cụ thể và dứt khoát đấy hay sao? 
            

Thật vậy, đề tài tôn giáo là một trong số các đề tài được các nghệ sĩ mọi thời khai thác nhiều nhất. Giáo Hội luôn nhờ đến khả năng sáng tạo của các nghệ sĩ để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu. Sự cộng tác này xưa nay vẫn là nguồn giúp hai bên làm giàu cho nhau về tâm linh. Xét cho cùng, đó chính là nguồn nâng đỡ quan trọng giúp chúng ta hiểu về con người, hình ảnh đích thực và sự thật của con người. Mối quan hệ đặc biệt giữa nghệ thuật và mặc khải Kitô Giáo cũng đã trở nên rõ ràng. Nhưng nói thế không có nghĩa là các thiên tài ấy không thể tìm được nguồn cảm hứng nơi các tôn giáo khác. Chỉ cần nhớ lại nghệ thuật của thế giới ngày xưa, nhất là của Hy Lạp và Roma, hay nền nghệ thuật hiện nay vẫn còn phát triển trong các nền văn minh Đông Phương. Tuy nhiên, chính vì có đưa ra một giáo lý cơ bản là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, nên Kitô giáo vẫn là nơi đóng góp cho các nghệ sĩ một chân trời những cảm hứng hết sức phong phú. Nghệ thuật sẽ trở nên nghèo nàn biết bao, khi từ bỏ kho Tin Mừng phong phú bất tận này! 

 


14. Lời hiệu triệu các nghệ sĩ 
           

 Với lá thư này, tôi xin hứa với các anh chị em nghệ sĩ trên toàn thế giới là mình vẫn luôn luôn quý trọng và sẵn sàng giúp đỡ, củng cố sự cộng tác tích cực hơn giữa nghệ thuật và Giáo Hội. Tôi mời gọi anh chị em hãy khám phá lại chiều sâu tâm linh và tôn giáo, vốn là nét điển hình của nghệ thuật từ xưa tới nay, dưới những hình thức cao quý nhất. Nghĩ như thế, nên tôi kêu gọi anh chị em nghệ sĩ: nghệ sĩ của chữ viết và lời nói, của sân khấu và âm nhạc, của tạo hình và thông tin theo các kỹ thuật tiên tiến nhất. Còn các nghệ sĩ Kitô Giáo, tôi cũng xin có lời hiệu triệu đặc biệt đối với các bạn: tôi muốn nhắc anh chị em nhớ rằng, ngoài những suy nghĩ nặng tính chức năng trên đây, ta còn thấy có một sự liên minh chặt chẽ và luôn luôn giữa Tin Mừng và nghệ thuật, nghĩa là các bạn được mời sử dụng trực giác sáng tạo của mình để đi sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể và đồng thời, đi sâu vào mầu nhiệm con người. 
            

Theo một nghĩa nào đó, con người không hiểu biết chính mình. Vì thế, Đức Giêsu Kitô không chỉ mặc khải Thiên Chúa, mà còn "mặc khải trọn vẹn để cho con người biết nhau"[1]. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã hoà giải thế giới với chính Ngài. Mọi tín hữu đều được mời gọi làm chứng điều này. Nhưng cách riêng, là những người đã hiến dâng cả đời cho nghệ thuật, anh chị em có nghĩa vụ phải dùng hết khả năng sáng tạo phong phú của mình để công bố thế giới đã được cứu chuộc trong Đức Kitô: con người được cứu độ, thân xác con người được cứu độ, toàn thể thụ tạo đang "sốt ruột chờ đợi sự mặc khải của con cái Chúa" (Rm 8,19). Thụ tạo cũng đang chờ đợi sự mặc khải của con cái Chúa qua nghệ thuật và trong nghệ thuật. Đây chính là nhiệm vụ của anh chị em. Nhân loại thời nào, kể cả thời nay, đều mong muốn các tác phẩm nghệ thuật soi sáng cho đường đi và số phận của nhân loại. 

 


15. Thánh Thần Sáng Tạo với việc cảm hứng nghệ thuật
          

Trong Giáo Hội, ta thường hát kinh cầu Chúa Thánh Thần: "Xin ngự đến, lạy Thánh Thần sáng tạo, đến viếng thăm và tuôn đổ ơn trời, xuống cõi lòng và tâm trí bề tôi, là sản phẩm do tay Ngài mà có"[1]. 
          

Thánh Thần hay "hơi thở" (ruah) là nhân vật đã được nhắc tới trong sách Sáng Thế: "Thuở mặt đất chưa nên hình nên dạng, tối tăm bao trùm mặt vực thẳm thì Thần Khí Chúa đã bay là là trên mặt nước" (1,2). Có một sự gần gũi đặc biệt giữa hai từ "hơi thơ" hay "thở" và "cảm hứng"! Thánh Thần là Nhà Nghệ Sĩ mầu nhiệm của vũ trụ. Hướng tới thiên niên kỷ thứ ba, tôi thầm mong rằng mọi nghệ sĩ sẽ nhận được dồi dào ơn cảm hứng sáng tạo, vì đó là khởi đầu cho mọi công trình nghệ thuật chân chính. 
           

Các nghệ sĩ thân mến, quý vị đã quá rõ có nhiều sự thúc đẩy, từ trong hay từ ngoài, có thể gây hứng cho quý vị thi thố tài năng. Nhưng bất cứ sự cảm hứng chân chính nào, cũng đều cưu mang phần nào "hơi thở" mà "Thánh Thần Sáng Tạo đã từng dùng để đỡ nâng công trình sáng tạo ngay từ thuở ban đầu". Thánh Thần Sáng Tạo trông coi các quy luật mầu nhiệm đang chi phối vũ trụ, sẽ thổi cho tới các bậc kỳ tài trong nhân loại và đánh thức dậy khả năng sáng tạo của họ. Ngài chạm đến khả năng ấy bằng cách soi sáng họ từ bên trong, cho họ vừa cảm thấy cái tốt lẫn cái đẹp, đồng thời đánh thức mọi năng lực của tâm trí lẫn của tâm hồn để chúng có thể thai nghén một ý tưởng nào đó, rồi phô diễn nó ra thành một tác phẩm nghệ thuật. Vì thế, không có gì sai khi nói đó là những "giây phút của ơn phước", dù chỉ theo nghĩa loại suy, vì lúc ấy con người như cảm nghiệm được Đấng Tuyệt Đối, vượt lên trên hết mọi sự. 

 


16. "Cái Đẹp" là cái mang lại sự cứu thoát 
           

Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba, tôi hy vọng rằng tất cả quý vị nghệ sĩ sẽ có được một kinh nghiệm hết sức mãnh liệt thế nào là sự cảm hứng sáng tạo. Ước gì cái đẹp mà quý vị chuyển trao cho các thế hệ sau sẽ đủ sức làm cho các thế hệ ấy phải cảm phục! Đứng trước sự linh thiêng của cuộc sống và con người, và đứng trước các kỳ quan của vũ trụ, cảm phục hẳn phải là thái độ duy nhất xứng hợp. 
            

Từ chỗ cảm phục ấy, người ta sẽ trở nên nhiệt tình phấn khởi như Norwid đã nói trong bài thơ tôi đã trích dẫn trên đây. Con người hôm nay và ngày mai cần có sự nhiệt tình phấn khởi này, nếu muốn đương đầu và khuất phục những thách đố cam go trước mặt mình. Nhờ sự nhiệt tình phấn khởi ấy mà nhân loại mỗi lần lạc lối lại trỗi dậy được và lên đường trở lại. Hiểu như thế nên có người mới nói: "cái đẹp sẽ cứu thoát thế giới". 
            

Cái đẹp là chìa khoá mở cửa mầu nhiệm và là tiếng gọi mời ta vươn lên cao. Đó cũng là tiếng nói mời gọi ta cảm nếm cuộc sống và mơ về tương lai. Chính vì thế, cái đep của thụ tạo không bao giờ có thể làm ta cảm thấy thoả mãn hoàn toàn. Nó khơi dậy nỗi nhớ nhung thầm kín về Thiên Chúa, một sự thật mà chỉ có người mê say cái đẹp như thánh Augustinô mới diễn tả được một cách tuyệt vời như sau: "Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới; con yêu Chúa quá muộn màng"[1]. 
          

Hỡi các nghệ sĩ trên thế giới, ước gì mọi nẻo đường khác nhau mà quý vị đang đi đều dẫn tới đại dương mênh mông của cái đẹp, nơi đó ngạc nhiên sẽ đổi thành ngỡ ngàng, hoan hỉ và sướng vui khôn tả. 
         

Ước gì quý vị được mầu nhiệm Chúa Phục Sinh hướng dẫn và tạo cảm hứng, Đấng mà Giáo Hội đang hân hoan chiêm ngưỡng trong những ngày này. 
          

Ước gì Đức Trinh Nữ Maria luôn ở với quý vị: ngài là người "đẹp tuyệt trần" đã được biết bao nghệ sĩ miêu tả, đã được nghệ sĩ Dante chiêm ngưỡng giữa biết bao nhiêu vẻ đẹp của thiên đường: ngài là "vẻ đẹp làm vui mắt mọi vị thánh"[1]. 
          

"Từ hỗn mang đã nảy sinh ra thế giới của tinh thần". Câu nói ấy của Adam Mickiewicz, viết vào thời kỳ vô cùng khó khăn của quê hương Ba Lan[1], càng thôi thúc tôi thêm hy vọng vào quý vị: ước gì nghệ thuật sẽ giúp quý vị xác nhận rằng một cái đẹp chân thật, cũng tựa như tia sáng của Thánh Thần Thiên Chúa, sẽ làm biến đổi vật chất, mở linh hồn con người cho cảm nhận được cõi đời đời.
          

 

Xin gởi đến quý vị những lời cầu chúc tốt lành tự đáy lòng tôi. 
                                                           

 

Vatican, Chúa Nhật Phục Sinh, 
ngày 4 tháng 4 năm 1999. 
GIOAN PHAOLÔ II

01.08.2011

Lời nói đầu sách NGHỆ THUẬT CÔNG GIÁO

Lịch sử nghệ thuật Công Giáo đã có chiều dài gần 20 thế kỷ; trong đó, một thời gian rất dài, khoảng từ thế kỷ thứ 3 cho đến thế kỷ thứ 18, nghệ thuật Công Giáo là dòng chủ lưu, thậm chí, ít nhiều đồng nhất với nghệ thuật Tây phương nói chung. Hầu hết những tác phẩm lớn, từ hội họa đến điêu khắc và kiến trúc, nếu không gắn liền với cảm hứng từ Cựu Ước và Tân Ước thì cũng được Giáo Hội bảo trợ; tư tưởng mỹ học của nghệ thuật Công giáo ảnh hưởng, với những độ đậm nhạt khác nhau, lên hầu hết các trào lưu mỹ thuật Tây phương suốt từ thời trung cổ đến thời sơ kỳ hiện đại, từ nghệ thuật Romanesque và Gothic đến nghệ thuật Phục Hưng và Baroque. Từ thế kỷ 19, trong khi ảnh hưởng của nghệ thuật Công giáo giảm dần ở Tây phương thì nó lan rộng và ăn sâu vào nghệ thuật của vô số quốc gia khác, đặc biệt ở châu Á và châu Phi, trước hết theo con đường thực dân hóa và sau, theo con đường toàn cầu hóa.

 

Bởi vậy, có thể nói, nghệ thuật Công giáo là một hiện tượng toàn cầu. Đó là tài sản của nhân loại và là một trong những thành tựu xuất sắc nhất mà con người đã đạt được trong lịch sử. Việc tìm hiểu nghệ thuật Công giáo, do đó, không đơn giản thuộc phạm vi của đức tin mà rộng hơn, thuộc phạm trù tri thức và thẩm thức. Hầu như bất cứ người nào yêu nghệ thuật và tò mò về lịch sử nghệ thuật thế giới, hoặc ít nhất, nghệ thuật Tây phương, cũng đều quan tâm đến nghệ thuật Công giáo. Có thể nói, không hề sợ khoa trương, thiếu kiến thức về nghệ thuật Công giáo, sự hiểu biết của chúng ta về nghệ thuật nói chung, sẽ bị hụt hẫng hẳn đi - cũng như nói về hội họa và điêu khắc mà quên đi những tên tuổi lớn như Leonardo da Vinci, Michelangelo và Raphel (riêng hai người sau thì gắn cả sự nghiệp vào các sinh hoạt mỹ thuật của Giáo Hội).

 

Điều đáng tiếc là, ở Việt Nam, trong mấy chục năm vừa qua, do nhiều nguyên nhân, khách quan cũng như chủ quan, nghệ thuật Công giáo chưa bao giờ được quan tâm đúng mức. Và đúng cách. Do đó, ngộ nhận rất phổ biến; thậm chí, nhiều người không hề nghĩ đến sự tồn tại của nó.

 

Cuốn sách này, bởi vậy, có thể được xem là bước đầu chạm lại nghệ thuật Công Giáo.

 

Chạm lại, bằng cách điểm lại một số tác phẩm tiêu biểu của một số tác giả tiêu biểu ở một số chủ đề tiêu biểu của nghệ thuật Công Giáo. 

 

Là bước đầu, cuốn sách này dĩ nhiên không thể tránh khỏi khuyết điểm. Tôi hy vọng, một đề tài lớn lao và thú vị như thế này sẽ được tiếp tục và ngày càng được đào sâu hơn nữa.  Trong tương lai.

 

 

 

 

 Nguyên Hưng

Tháng 7 năm 2011

Nghệ thuật Công giáo

07.06.2011

Điểm G của chế độ

Mới đây, trong bài “Cơn nhức đầu 100 năm” đăng trên nhật báo Người Việt, nhà báo Ngô Nhân Dụng nhắc đến vấn đề biên giới giữa Israel và Palestine, và ông xem đó là một vấn đề “nhạy cảm” đối với sinh hoạt chính trị của Mỹ. Điều thú vị là ông lại để hai chữ “nhạy cảm” trong ngoặc kép. Tại sao? Tôi đoán là ông muốn mượn lại và cũng muốn nhắc nhở người đọc nhớ đến cái chữ “nhạy cảm” vốn rất thông dụng tại Việt Nam hiện nay.

Cảm thấy thú vị với hai chữ “nhạy cảm” trong ngoặc kép ấy, tôi tò mò vào Google, và phát hiện ra một điểm khác cũng thú vị không kém: Bạn có biết hai chữ “nhạy cảm” xuất hiện ở đâu nhiều nhất không? Thưa, đó là hai lãnh vực: chính trị (Việt Nam) và tình dục.

Liên quan đến tình dục, chữ “nhạy cảm” đã được dùng một cách phổ biến từ lâu. Nói đến “nhạy cảm”, người ta hay nghĩ đến thân thể của người phụ nữ: Đại khái, ở đó, có một số điểm “nhạy cảm” hơn hẳn những chỗ khác. Nơi “nhạy cảm” nhất thường được gọi là điểm G (Gräfenberg Spot). Có điều, giới nghiên cứu y khoa lại không đồng ý với nhau về vị trí của cái điểm G ấy. Người nói thế này, người nói thế khác. Người thì nói nó nằm bên ngoài; người thì nói nó nằm bên trong. Người thì cho đó chỉ là một huyền thoại, người thì bảo: nó có thật; chỉ có vấn đề là không thể khẳng định dứt khoát nó nằm ở đâu mà thôi. Qua những sự cãi vã ấy, chúng ta, với tư cách là những người ngoại đạo trong ngành y học, có thể tạm rút ra ít nhất vài kết luận: một, cái điểm “nhạy cảm” ấy tương đối nhỏ; hai, nó khá khuất, chứ không lồ lộ như một cái nốt ruồi; và ba, ngay cả khi lồ lộ ra ngoài như thế, nó cũng chỉ “nhạy cảm” trong một số điều kiện nhất định chứ không phải ai hay cái gì đụng vào nó cũng lên tới... đỉnh cả. Chính ở đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt lớn trong cách dùng chữ “nhạy cảm” trong lãnh vực tình dục và lãnh vực chính trị.

Trong lãnh vực tình dục, chỗ “nhạy cảm” là chỗ có khả năng làm cho người ta đạt đến chỗ “cực khoái”; trong lãnh vực chính trị, chỗ “nhạy cảm” là chỗ làm cho giới lãnh đạo, ngược lại, nhột nhạt và khó chịu, thậm chí, tức giận. Trong lãnh vực tình dục, người tìm ra chỗ “nhạy cảm” được khích lệ; trong lãnh vực chính trị, người nào đụng đến chỗ đó thì rất dễ có nguy cơ bị bắt và ở tù với “bằng chứng” là hai cái condom “đã qua sử dụng” (như trường hợp của Cù Huy Hà Vũ)! Nhưng sự khác biệt này mới là quan trọng: trên thân thể con người chỉ có một số điểm được xem là nhạy cảm; còn ở Việt Nam hiện nay thì dường như ở đâu cũng “nhạy cảm” cả. Chuyện đa nguyên đa đảng ư? - Ồ! Nhạy cảm lắm. Chuyện tự do và dân chủ ư? – Cũng nhạy cảm! Chuyện tranh chấp với Trung Quốc ư? – Cũng nhạy cảm! Chuyện tham nhũng ư? – Nhạy cảm! Chuyện khả năng của lãnh đạo ư? – Nhạy cảm! Chuyện cán bộ đua nhau mua bằng giả ư? – Nhạy cảm! Chuyện con cháu cán bộ ăn chơi hư hỏng ư? – Nhạy cảm! Chuyện ngư dân Việt Nam bị bắt, bị cướp hoặc bị giết chết ngoài biển khơi ư? – Nhạy cảm! Ngay cả những chuyện như tàu thủy chở du khách ngoại quốc bị chìm cũng bị xem là “nhạy cảm”. Chuyện khai thác bauxite ở Tây nguyên cũng bị xem là “nhạy cảm”. Chuyện xây dựng đường sắt cao tốc cũng lại là chuyện “nhạy cảm”, v.v...

Chỗ nào cũng có thể bị xem là “nhạy cảm” cả. Bây giờ hãy thử tưởng tượng nền chính trị Việt Nam là thân thể của một phụ nữ: nơi nào cũng “nhạy cảm”. Đi đường, chỗ hẹp, bạn vô tình chạm vào lưng nàng, nàng la toáng lên: "Sách nhiễu tình dục!" (sexual harassment). Lý do? Lưng nàng rất "nhạy cảm! Gặp nhau, theo lối Tây phương, bạn đưa tay bắt, nàng giãy lên đành đạch: “Sách nhiễu tình dục”. Lý do? – Tay nàng rất “nhạy cảm”!  Ngồi ăn chung một bàn, vô tình chân bạn đụng phải chân nàng dưới ghế, nàng cũng buộc tội là “sách nhiễu tình dục” và hăm he đòi gọi cảnh sát bắt bạn vì chân nàng rất... “nhạy cảm”.

Ối giời!

 

 

Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: tienve.org

 

Tư liệu về cuộc biểu tình chống Trung Quốc ngày 5/6/2011

Phim:

 

http://www.youtube.com/watch?v=mm-3vVB-Xwg&feature=player_detailpage

http://www.youtube.com/watch?v=BWlYL1Urg94&feature=player_detailpage

http://www.youtube.com/watch?v=eCL1mJaDc28&feature=player_detailpage

http://www.youtube.com/watch?v=6dS_4V1Plk4&feature=player_detailpage

http://www.youtube.com/watch?v=ltzvVw1np5c&feature=player_embedded

http://www.youtube.com/watch?v=VZkk9BS7N3Q&feature=player_embedded

(Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2011/06/phim-tai-lieu-cuoc-xuong-uong-phan-oi.html)

 

http://www.youtube.com/watch?v=YQ4_z3rjnUw&feature=player_embedded

http://www.youtube.com/watch?v=FJwZ-uaxoZs&feature=player_embedded

http://www.youtube.com/watch?v=DEAGaRjZ1M4&feature=player_embedded

(Nguồn: http://anhbasam.wordpress.com/)

 

 

Một số hình ảnh:

Biểu tình 5/6/2011 ở Saigon


246882_220499254640592_100000415584390_806251_5817256_n.jpg

 

5/6/2011

 

Một số bài biết:

 

 

1/ Khi lòng yêu nước dâng trào!

Tường thuật của nhà văn Nguyễn Viện từ Sài Gòn

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=56E51A11F1FB6591A532CEAE043F0A4C?action=viewArtwork&artworkId=12856

 

2/ Báo chí của Đảng và Nhà Nước phủ nhận sự kiện biểu tình của những người Việt Nam yêu nước ngày 05.06.2011

Nguyễn Thị Quê Hương

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=56E51A11F1FB6591A532CEAE043F0A4C?action=viewArtwork&artworkId=12862

 

3/ Chúng tôi không ngây thơ

Phan Thị Lan Phương

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=56E51A11F1FB6591A532CEAE043F0A4C?action=viewArtwork&artworkId=12863

 

4/ Lời ngỏ cho những người xuống đường ngày 5/6/2011

Tuấn Khanh

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessio...

 

 

 

 

04.06.2011

CÁC LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH VĂN HỌC (Nguyễn Hưng Quốc)

Lời tác giả:

 

Phần tóm lược dưới đây chỉ nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm ‘bản đồ’ của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay, chủ yếu để giúp bạn đọc dễ theo dõi các bài viết về lý thuyết và phê bình văn học đăng tải trên Tiền Vệ. Khi đọc, xin bạn đọc lưu ý cho một điểm: không có một lý thuyết nào có thể được tóm lược một cách trung thành và trung thực, do đó, tấm ‘bản đồ’ này chỉ nên được sử dụng như một cơ sở để tham khảo, từ đó, đọc thêm, hơn là để đánh giá các lý thuyết ấy.

 

Với mục đích ‘giới thiệu’, tôi chỉ chọn một số những lý thuyết chính và có ảnh hưởng nhất mà thôi. Ðó là:

 

Hình thức luận của Nga (Formalism)

Phê Bình Mới của Anh và Mỹ (New Criticism)

Cấu trúc luận (Structuralism)

Hậu cấu trúc luận / Giải cấu trúc (Poststructuralism/Deconstruction)

Các lý thuyết Mác-xít (Marxist Theories)

Thuyết người đọc (Reader Theory)

Phân tâm học (Psychoanalysis)

Nữ quyền luận (Feminism)

Thuyết lệch pha (Queer Theory)

Chủ nghĩa hậu thực dân (Postcolonialism)

Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism)

Chủ nghĩa tân duy sử (New Historicism) và Chủ nghĩa duy vật văn hoá (Cultural Materialism)

 

Về tài liệu tham khảo, tôi chỉ ghi những tác phẩm chính, mới và dễ tìm nhất, chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

 

Nguyễn Hưng Quốc

 

 

Download:

CÁC LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH VĂN HỌC.doc

 

 

.

03.06.2011

Loạt bài "Toàn cầu hoá và văn hoá" của Nguyễn Hưng Quốc

Loạt bài "Toàn cầu hoá và văn hoá" này của Nguyễn Hưng Quốc gồm 5 bài đã đăng lần lượt trên blog cá nhân của anh trên VOA. Ở đây, tôi dồn lại thành một tệp để bạn đọc tiện tham khảo.

 

Download:

Toàn cầu hoá và văn hoá.doc

 

 

 

 

.

“Đức Mẹ” của Raphael

Trong kho tàng nghệ thuật Công Giáo, tranh về Đức Mẹ Maria chiếm một tỉ lệ lớn. Hầu như nghệ sĩ Công Giáo nào, từ xưa đến nay, cũng đều có vẽ tranh về Đức Mẹ. Rất dễ hiểu vì sao có sự say mê này. Ngoài các ý nghĩa "Thánh thiêng" gắn liền với những câu chuyện trong Kinh Thánh, với cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu, hình ảnh Đức Mẹ Maria còn đi vào tâm thức mọi người, kể cả người ngoài Công Giáo, như một biểu tượng thẩm mỹ về người mẹ, về người phụ nữ nói chung với các phẩm chất: thánh thiện, hy sinh, khiêm nhường v.v...

Có rất nhiều nghệ sĩ thành công trong nghệ thuật với những bức tranh về Đức Mẹ. Nhưng, dẫn đầu, vượt ra ngoài các không gian văn hóa dị biệt và khoảng cách thời đại, có lẽ, chỉ có Raphael (Tên đầy đủ: Raffaello Sanzio da Urbino, 1483 – 1520).

Ai biết chút ít về nghệ thuật, có lẽ, đều biết đến cái tên Raphael. Ông được xem là một trong ba người "khổng lồ", là họa sĩ quan trọng nhất của thời Phục Hưng, và là họa sĩ "số một" của nghệ thuật Công Giáo mọi thời đại. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, mất khi mới 37 tuổi, nhưng Raphael đã để lại hơn 250 tác phẩm, mà hầu hết, đều được xếp vào hàng tuyệt tác.

Những bức tranh vẽ Đức Mẹ Maria của ông, còn lại khoảng 20 bức, đều được xem là những thành tựu tiêu biểu của nghệ thuật Phục Hưng, và là những "khuôn vàng, thước ngọc" về nghệ thuật thể hiện hình tượng Đức Mẹ, cho đến ngày nay.

Đã có vô số công trình nghiên cứu và bài viết giới thiệu, phân tích về các tác phẩm này. Ở đây, trong khuôn khổ một bài viết mang tính phổ cập và nhắm đến đối tượng là người Công Giáo, tôi chỉ giới thiệu hai tác phẩm vẽ về Đức Mẹ nổi tiếng nhất và có tầm ảnh hưởng lớn nhất của Raphael.

 

Trước hết, phải kể đến "Đức Mẹ Granduca" Raphael sáng tác năm 1504.

Nguyên Hưng

 

Khi vẽ hình ảnh Đức Mẹ trong bức tranh này, Raphael đã không dựa vào một nguyên mẫu nào. Tất cả, đều chỉ từ trí tưởng tượng. Ông phải "vật lộn" với vô số phác thảo để tìm kiếm cái đẹp lý tưởng của mình, và cuối cùng, công lao khổ nhọc của ông đã được đền đáp. Bức tranh đạt đến sự hài hoà bình dị một cách tự nhiên và ẩn chứa một trữ lượng cảm xúc vô biên, khó tả-vượt xa tất cả những tác phẩm vẽ Đức Mẹ đã có trước đó. Nhiều nhà phê bình mỹ thuật sau này cho rằng, kể từ khi "Đức Mẹ Granduca" của Raphael ra đời, hình ảnh Đức mẹ Maria trong hội họa phương Tây và cả trong tâm thức người phương Tây nói chung, mới có được một mẫu mực. Sự ảnh hưởng này dường như vẫn còn "mới nguyên" cho đến tận ngày nay.

Về bức tranh này, trong The story of Art, E.H. Gombrich đã viết: "Bức “Madonna del Granduca” của Raphael đúng là kinh điển theo cái nghĩa nó đã trở thành mẫu mực cho sự hoàn hảo cho bao thế hệ... Nó không cần được giải thích. Nơi đây sức sống tràn đầy. Cái cách Raphael tạo hình khuôn mặt Đức Trinh Nữ và cho nó lui dần vào bóng tối, cái cách chàng làm cho ta cảm thấy khối lượng cơ thể dưới lớp áo choàng lỏng lẻo, sự vững chãi và dịu dàng trong cách ngài bồng ẵm trẻ Giêsu - tất cả tạo nên thế cân bằng hoàn hảo. Ta cảm thấy chỉ cần thay đổi bố cục chút xíu cũng đủ làm xáo trộn toàn bộ sự hài hòa. Thế nhưng không hề có gì gò bó hay giả tạo trong cách sắp xếp. Trông nó như không thể khác hơn, và dường như nó đã hiện hữu như thế từ khi bắt đầu có thời gian”


Tác phẩm thứ hai, đáng kể hơn, chính là "Đức Mẹ Sistine” Raphael vẽ cho nhà thờ Thánh Sixto năm 1514.

  

 

Nguyên Hưng

Đây là tác phẩm cuối cùng Raphael vẽ về đề tài Đức Mẹ Maria, khi mà nhân cách và tài năng nghệ thuật của ông đang ở giai đoạn phát triển chín muồi. Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử và phê bình mỹ thuật (phương Tây) đều đồng ý, "Đức Mẹ Sistine" của Raphael là đỉnh cao nhất của nghệ thuật Công Giáo về đề tài Đức Mẹ Marian- tính cho đến ngày nay. Sự nhìn nhận này, không chỉ bởi sự sống động của các hình ảnh nhân vật được thể hiện, sự cân bằng hoàn hảo một cách tự nhiên của cấu trúc hình diện, mà cơ bản hơn hết, bởi tầm vóc tư tưởng lớn lao và bởi các giá trị biểu xúc tiềm ẩn vô hạn lấp lánh trong từng chi tiết-bao trùm tác phẩm... Ai dường như cũng biết Raphael là họa sĩ mộ đạo nhất trong số họa sĩ danh tiếng thời Phục Hưng. Nhiều người cho rằng, "Đức Mẹ Sistine" là biểu hiện kết tinh đức tin và tri thức của Raphael về Đức Mẹ Maria và về Tin Mừng Cứu Chuộc của Thiên Chúa...

Trung tâm tác phẩm là hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh đang bồng Chúa Hài Đồng trên tay với dáng dấp vửa trang nghiêm đường bệ vừa lồng lộng thanh nhã. Đã có rất nhiều bài viết của các nhà phê bình nghệ thuật phân tích các sắc thái biểu ý, biểu cảm của hình ảnh này và không ngớt lời ca ngợi bút pháp điêu luyện cũng như sự am hiểu tâm lý của tác giả. Tuy nhiên, để thực sự hiểu ý nghĩa sâu xa của tác phẩm, cần phải bắt đầu từ hình ảnh hai vị Thánh quỳ hai bên Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng. Chỉ khi biết hai vị Thánh này là ai, chúng ta mới có cơ may cảm nhận được ý nghĩa ẩn đàng sau dáng dấp của họ, ý nghĩa sự liên hệ tương tác của các yếu tố trên tranh, và cả ý nghĩa thực sự của hình ảnh Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng...

Quỳ hai bên Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng là Thánh Sixto và Thánh Barbara - hai vị Thánh Tử Vì Đạo ở thế kỷ thứ 3, thời Giáo Hội Rôma bị bách hại. Chúng ta có thể nhận thấy sự thanh thản biểu lộ nơi hình ảnh hai vị Thánh. Cái không gian trời mây với ánh sáng huyền diệu lung linh ẩn hiện những khuôn mặt Thiên Thần làm nền trong tranh cho thấy họ đang ở một cảnh giới khác. Họ đến, trong sự tuyên xưng đức tin, và qua dáng dấp, dường như họ đang làm chứng về cuộc sống vĩnh cửu bên Thiên Chúa sau cái chết trần thế. Hai Thiên Thần trong hình ảnh hai em bé ngây thơ, hồn nhiên ở bên dưới, dường như cũng đang làm chứng cho sự tuyên xưng và làm chứng này của họ...

Tất cả hình ảnh trong tranh được dàn dựng như một hoạt cảnh trên sân khấu. Điều này chứng tỏ đây là hình ảnh của sự suy gẫm. Và, đòi hỏi một sự suy gẫm. Cách bố cục các cụm nhân vật cùng hai tấm rèm cong hai bên ở phía trên làm liên tưởng đến hình ảnh Thập Tự Giá. Chính cấu trúc tổng thể tạo liên tưởng đến Thập Tự Giá đã mở rộng trường nghĩa tác phẩm: Sự suy gẫm thần học Thập Tự Giá ở đây sẽ có ý nghĩa soi sáng cho các suy gẫm thần học Đức Mẹ Maria...

Sự trác tuyệt và tầm quan trọng của "Đức Mẹ Sistine" của Raphael nằm ở sự gợi mở cho những suy ngẫm sâu xa này.

Xin ghi chú thêm một chút bên lề: "Đức Mẹ Sistine" của Raphael, từ năm 1754 đã được chuyển đến Dresden, nước Đức. Và, từ đó đến nay, nó được xem là biểu tượng của thành phố này.

 

***

Ngày nay, trong cách nhìn đương đại về nghệ thuật, người ta có thể không còn yêu thích các tác phẩm của Raphael nữa. Tuy nhiên, điều đó không có ý nghĩa của một sự phủ định. Và dường như chỉ là nhất thời. Raphael vẫn là một họa sĩ vĩ đại trong lịch sử. Và tác phẩm của ông không chỉ tồn tại vĩnh cửu mà còn không ngừng được tái sinh trong những tâm tình khác nhau của đức tin Công Giáo và sự ngưỡng vọng về những cái đẹp cao cả.

 

Nguyên Hưng

http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20110530/10617

02.06.2011

Loạt bài "Thế nào là yêu nước" của Nguyễn Hưng Quốc

Loạt này của Nguyễn Hưng Quốc gồm 8 bài đã đăng lần lượt trên blog cá nhân của anh trên VOA. Ở đây, tôi dồn lại thành một tệp để bạn đọc tiện tham khảo. 

 

Download:

 Thế nào là yêu nước.doc

 

 

 (NH)

25.04.2011

Về “Sự nghi ngờ của Thánh Tôma” của Caravaggio

Caravaggio đương thời, được/bị xem là một kẻ càn quấy, huênh hoang, ngông cuồng và ưa gây hấn; một kẻ nát rượu, mê cờ bạc, thích giao du với bọn người bất hảo và rất hay đánh nhau…

 

Không phải ai cũng tin như vậy. Nhìn lại bối cảnh đương thời, trong khi ai cũng đang say sưa với các tiêu chuẩn thẩm mỹ Phục Hưng “vẽ người như Thần” và ai cũng tỏ ra có các dáng dấp quý tộc hoặc thèm muốn các quan hệ giới quý tộc… thì Caravagio cứ như là sự trêu ngươi. Ông quá tự tin vào tài năng và quá triệt để với cách nhìn hiện thực của mình. Ông không quan tâm đến các nguyên tắc “kiểu thức hóa”, và bất cần cả các tiêu chuẩn “chắt lọc”, “thăng hoa” mang tính hình thức đang là thời thượng. Ông cứ mang nguyên cái vẻ xù xì, thô kệch cả về thể chất lẫn cảm xúc của những con người thật chung quanh lên tranh.

 

Cách suy nghĩ khác quá xa so với tầm thời đại, và cái sự quá trung thực, có lẽ, mới là nguyên cớ chính đẩy ông vào tình trạng “đọa đầy” cả về thân xác lẫn tâm hồn trong đời sống hiện thực. Ông trở thành một kẻ “lập dị”, ương bướng, rất gần với “sự xấu xa”, và rất dễ bị “chụp mũ cho những điều xấu xa”. Tranh của ông đương thời, tuy vẫn được nể phục, nhưng không được nhiều người yêu thích.

 

Tuy nhiên, người ta cũng đã có thể nhận thấy các dấu vết ảnh hưởng ông ở các nghệ sĩ lớn ngay sau ông như Rubens, Jusepe de Ribera, Bernini, và Rembrandt. Và, thời gian cũng đã ủng hộ ông. Từ đầu thế kỷ 20, ông đã được phát hiện lại, và được nhìn nhận như một thiên tài.

 

Những bức tranh chủ đề Công Giáo “phi lý tưởng hóa” một thời bị cho là “thô lỗ” của ông đã được nhìn nhận trở lại như là những kiệt tác. “Sự nghi ngờ của Thánh Tôma” của Caravaggio là một trong những tác phẩm đã được phát hiện lại trong sự thán phục như vậy.

 

Chúng ta hãy nghe E.H Gombrich mô tả bức tranh này: ”Ba vị Tông Đồ đang nhìn chăm chăm vào Chúa Giêsu, một người trong bọn họ chọc ngón tay vào vết thương ở cạnh sườn Người, trông khá kỳ quặc. Ta có thể hình dung một bức tranh như vậy đã xúc phạm đến những kẻ mộ đạo ra sao vì tỏ ra bất kính và thậm chí báng bổ. Họ đã quen thấy các Tông Đồ với dáng vẻ cao trọng trong những nếp áo đẹp đẽ-nhưng ở đây, các ngài lại giống những người lao động bình dân, với những gương mặt phong trần và những vầng trán nhăn nheo. Nhưng Caravaggio có lẽ sẽ trả lời rằng các ngài thật sự là những kẻ lao động tuổi tác, những con người bình dân. Còn về cái cử chỉ không xứng hợp của Tôma kém lòng tin, thì Kinh Thánh đã tường thuật rất rõ. Chúa Giêsu đã nói với ông: “Đưa tay ngươi ra đây, và hãy xỏ vào cạnh sườn ta; và đừng cứng lòng, nhưng hãy tin” (Gioan xx, 27)” (Câu chuyện nghệ thuật-E.H. Gombrich)

 

Trong đoạn mô tả trên, E.H. Gombrich cho chúng ta thấy tình thế “cần biện bạch” của bức tranh khi mới ra đời. Tuy nhiên, trong sự “biện bạch” ông cũng chỉ dừng lại ở nhãn quan “duy thực”, vẫn tin Caravaggio là một họa sĩ “duy thực” triệt để. Ông vẫn cho cái cách của Caravaggio là “sao chép thiên nhiên một cách trung thành, bất kể nó xấu hay đẹp…”, “và ông làm mọi điều có thể để các nhân vật trong bản văn cổ trông thật hơn và dễ cảm nhận hơn…” (sách đã dẫn)

 

Các nhà phê bình “Ký hiệu học nghệ thuật” sau này, đã nhìn nhận nghệ thuật Caravaggio hơi có phần khác. Người ta nhận thấy, sự tương phản mạnh trong cách thể hiện ánh sáng trong tranh ông, không chỉ nhằm tạo kịch tính mà là một yếu tố ngôn ngữ có tính tư tưởng. Cái phong cách hiện thực trần trụi trong tranh ông cũng không còn được nhìn nhận như “cái nhìn quỷ ám” hay tầm thường… mà được xem như một sức mạnh có khả năng biểu hiện cái đẹp của sự thật và chân lý. Hãy xem lại tác phẩm.

 

Nguyên Hưng

 “Sự nghi ngờ của Thánh Tôma”, 1601-02, sơn dầu, 107 x 146 cm, Caravaggio


 

Trong tranh, Chúa Giêsu không có vòng hào quang trên đầu-như thường thấy-và gương mặt Người bị che khuất trong tối. Nổi bật trong tranh là hình ảnh hai bàn tay Chúa Giêsu, một tay vén áo, một tay cầm tay Thánh Tôma đưa vào vết thương trên cạnh sườn của Người. Và thêm nữa là hai vầng trán sáng: vầng trán nhăn nheo của Thánh Tôma ở phía trước, và vầng trán hói của Thánh Phêrô ngay phía sau.

 

Người ta nhận thấy trong cách bố cục này, Caravaggio muốn truyền tải mấy thông điệp chính:

 

Một, Chúa Giêsu đã cầm tay Thánh Tôma đưa vào vết thương trên cạnh sườn của Người. Người muốn các Thánh Tông Đồ “phải thấy” dấu vết sự khổ nạn của Người. Và cả với chúng ta cũng vậy. Sự nhận biết Thiên Chúa từ nay, không phải từ hình ảnh trần thế của Người, mà từ ý nghĩa của sự khổ nạn vì Công Cuộc Cứu Chuộc của Người. Trong thực tế đời sống tôn giáo, nhiều khi chúng ta đã quên đi điều này!

 

Hai, hai vầng trán sáng của Thánh Tôma và Thánh Phêrô, là một cách giải thích căn nguyên của sự nghi ngờ-của các Thánh và của cả chúng ta. Đó là sự nghi ngờ của đầu óc, của lý trí trần tục hạn hẹp. Cũng có thể nói ngược lại: chính sự hạn hẹp của đầu óc, của lý trí trần tục là căn nguyên của sự nghi ngờ. Và đó, không phải là cách tiếp cận Thiên Chúa!

 

Ba, cái dáng dấp thô kệch cùng hình ảnh thể hiện hành vi hơi có phần thô lỗ, tầm thường ở các Thánh Tông đồ này, càng nhấn mạnh cho cái tư cách trần tục của họ (và của chúng ta) trước Thiên Chúa. Sự nghi ngờ ở đây, đã được thể hiện như một sự thô lỗ, tầm thường và hạn hẹp…!

 

Đã đến lúc chúng ta quay trở lại với những câu chuyện trong Kinh Thánh xoay quanh chủ đề “sự nghi ngờ của Thánh Tôma” và suy ngẫm về nó. Chúng ta hẳn thấy, Caravaggio đã nghiền ngẫm Kinh Thánh với những suy tư sâu sắc như thế nào. 

 

 

Nguyên Hưng

23.04.2011

Họa sĩ Trí Đức và tác phẩm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”

Tôi biết Trí Đức đã lâu. Từ những năm 1983. Khi anh còn là chủ một của hàng chuyên vẽ chân dung và chép tranh bề thế trên đường Lê Văn Sỹ. Phải thừa nhận, trên địa hạt này, anh là một “họa sĩ” xuất sắc. Hồi đó, mỗi lần đi ngang qua, tôi đều ghé tạt cửa hàng của anh. Lúc nào cũng đông đúc người ra vô. Xem ra anh khá thành công với công viêc của mình…

 

Bẵng mấy năm, khoảng cuối năm 2000, tôi tình cờ gặp Trí Đức ở Hội Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, và được biết, anh vừa mới có triển lãm cá nhân lần đầu tiên tại đây. Tôi thực sự ngạc nhiên, nhưng cũng có đôi chút nghi ngờ. Đành rằng trước đây tôi đã từng nể phục anh, nhưng sự nể phục, chỉ giới hạn ở phạm vi một người thợ, và ở khía cạnh khác, một nhà kinh doanh. Chữ họa sĩ ở trên, tôi phải bỏ trong ngoặc kép là vì thế. Tôi ngạc nhiên vì anh đã chuyển sang sáng tác. Nhưng tôi nghi ngờ, bởi gần như hầu hết những người xuất thân từ giới chuyên vẽ chân dung và chép tranh, (nhất là chép tranh Cổ điển phương Tây) khi chuyển qua sáng tác, thường rất hay sa vào lối tả kể hay minh họa hời hợt… Rất hiếm người thực sự hiểu bản chất của ngôn ngữ tạo hình. Đa số cứ sa đà với các tiêu chuẩn mốc meo về bút pháp đẹp, hình vẽ đẹp, màu sắc đẹp… nào đó v.v…

 

Mấy ngày sau, tôi ghé thăm gallery của Trí Đức mới mở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Hơi bất ngờ. Xem tranh anh, tôi thấy ở anh có sự bận lòng. Nói như Odilon Redon, là “có cái giằn vặt thiêng liêng bắt nguồn từ vô thức và cái xa lạ”. Tranh anh khác nhau từ tấm này đến tấm khác. Đó là sự khác nhau của tâm tư chuyển động, của sự mò mẫm tìm kiếm. Tôi nhìn thấy một con người thật, một cuộc sống thật, một nổ lực sáng tạo thật trong tranh anh…

 

Trí Đức 1

Trí Đức 1

 

 

Hôm đó, tôi ngồi với Trí Đức thật lâu. Nói đủ thứ chuyện về nghệ thuật và về cuộc sống. Trí Đức không phải là người giỏi ăn nói, nhưng qua cái ngôn ngữ ú ớ của anh, người không cần tinh ý lắm cũng có thể nhận thấy, ở anh có một tình yêu trọn vẹn đối với cái đẹp, với chân lý, một nỗi đam mê lớn lao đối với nghệ thuật và khát khao cái mới. Đó chính là chất men tái tạo khả năng sáng tạo nơi anh…

 

Sau này, tôi thường xuyên đến chổ Trí Đức, xem tranh mới của anh. Ở Việt Nam, tôi thân gần với khá đông họa sĩ, nhưng để nói chuyện được về nghệ thuật, như nói chuyện với Trí Đức, thực ra không nhiều. Nhiều họa sĩ, có vẻ như đã tìm ra được kỹ thuật của mình,và cứ thế mà vẽ. Họ làm việc cần mẫn và đều đặn cho ra tác phẩm mới. Họ ít có chuyện để nói. Trí Đức khác hẳn. Anh hết sức bất thường, lúc phấn chấn hào hứng bởi những loé sáng nào dó, lúc lộ rõ sự bất an hay bồn chồn như chờ đợi điều gì. Tôi thích sự bất thường này. Đó là sự bất thường của con người sáng tạo…  

 

Tranh Trí Đức, bởi vậy, đầy giao động. Giao động giữa các cảm xúc trữ tình thế sự và siêu hình. Đó là quá trình khám phá sự thật cuộc sống và những bí ẩn của tâm hồn trong niềm xúc động sâu xa. Với đặc điểm tư duy nghệ thuật này, Trí Đức không dừng lại ở bất cứ thủ pháp nghệ thuật nào. Lúc anh vẽ theo phong cách tượng trưng, lúc trừu tượng, lúc là sự hoà trộn giữa tượng trưng với trừu tượng v.v… Nhiều người cho rằng anh vẽ với quá nhiều phong cách, và đó là dấu hiệu của sự chưa “chín tới”. Thật sai lầm. Không có con người sống thật nào lại có thể nói về mọi chuyện mà chỉ bằng một giọng điệu!... Khi vẽ một gánh hàng rong, Trí Đức đã nhìn đối tượng trong cái xao xác đời thường với tình cảm trìu mến hay hoài niệm thật gần nào đó; nhưng khi vẽ một con cá, nhất là khi trong tâm tư anh nó mang một ý nghĩa biểu tượng, một cách tự nhiên, anh đi theo sự dẫn dắt của tư tưởng vào những không gian và các quan hệ của sự trừu tượng hóa mang ý nghĩa tượng trưng, siêu thực hay thuần tuý trừu tượng…

 

Hơn 1 năm nay, Trí Đức miệt mài với những tác phẩm có đề tài tôn giáo. Không phải là vẽ tranh minh họa Kinh Thánh. Cũng không hẳn là trình hiện các cảm nhận, suy tư của mình trước các chủ đề tôn giáo. Có vẻ như anh đang truy vấn chính mình. Chính xác hơn, là đang truy vấn cái con người tín hữu trong mình. Bức tranh nào anh cũng vẽ trong sự vật vã. Mỗi bức tranh đều bề bộn các biểu tượng, các ký hiệu . Anh vẽ rồi bôi xóa. Nhiều khi, anh ngồi lặng lẽ hàng giờ trước bức tranh dở dang mà không vẽ thêm gì. Hình như ở anh đang có sự bất an nào đó. Hình như anh đang phải tự trả lời cho mình những vấn nạn siêu hình nào đó trong đức tin tôn giáo.

 

Trí Đức 1

Trong bức tranh “Đức Mẹ Maria” anh gởi tham gia triển lãm Nghệ thuật Công Giáo tháng 11 năm ngoái, rõ ràng anh không muốn diễn tả hình ảnh Đức Mẹ Maria như mọi người vốn hình dung. Anh vẽ Đức Mẹ Maria như anh cảm nhận, suy tư. Đức Mẹ của anh là Đức Mẹ được “làm ra từ đất” như bao nhiêu con người khác. Và Người, cũng phải chịu đóng đinh khổ luỵ như chính con mình. Nỗi đau đó là một thực tại-con người. Ánh sáng trong tranh thật đẹp. Một vẻ đẹp lung linh huyền nhiệm. Nó làm cho không chỉ hình tượng Đức mẹ mà cả cái nỗi đau được diễn tả mang một ý nghĩa thiêng liêng. Với bức tranh này, dường như anh muốn khẳng định niềm tin vào sự “đồng công” của Đức Mẹ Maria.

Trí Đức 1

 

Bức tranh “Thiên Chúa là sự sống” của anh mà tôi đã từng giới thiệu, cũng là một bức tranh đẹp. Một vẻ đẹp nghiêm trang của sự suy tư sâu lắng. Cái câu chuyện về sự ra đời của phép Bí tích Thánh thể được ghi trong Kinh Thánh này, lắng đọng trong tâm tư anh qua hình ảnh con cá sống động biểu tượng cho sự sống. Với anh, suy tư về Bí tích Thánh thể, cũng chính là suy tư về sự sống. Anh đang mang các trãi nghiệm thường tục soi giải đức tin tôn giáo của mình. Cũng có thể nói ngược lại, anh đang mang đức tin tôn giáo nơi mình để soi giải các trãi nghiệm thường tục. Ý nghĩa Bí tích Thánh thể trong anh, đã được chuyển hóa thành ý nghĩa của bản thân sự sống. Một sự sống tổng hòa các giá trị thực tại và tâm linh. Trong đêm tối mịt mùng và đau thương trần thế, cái sự sống biểu hiện qua hình ảnh con cá mong manh như lấp lánh hào quang. Nó hiện diện như một diệu kỳ… 

 

Tác phẩm anh mới hoàn thành, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, hình như là kết quả những suy ngẫm của anh trong suốt Mùa Chay. Đây là tác phẩm chính tôi muốn đề cập trong bài viết này.

trí Đức

 

Ban đầu, tôi dự tính diễn dịch trực tiếp vào tác phẩm, và chỉ với mỗi tác phẩm này. Nhưng nghĩ lại thấy, nếu không bắt đầu bằng giới thiệu hành trình và đặc điểm tư duy nghệ thuật của Trí Đức thì sẽ trở thành khó hiểu. Trí Đức dấn vào nghệ thuật như một hành trình khám phá bản thân. Anh quan tâm đến cái đẹp của chân lý được phát hiện. Anh có khuynh hướng nhìn nhận thế giới trong chính nội tâm mình. Và nhìn nhận luôn cả sự nhìn nhận đó nữa. Anh vẽ như lộn trái chính mình. Vốn là người theo đạo Công Giáo thuần thành, nhưng đề tài Công Giáo trong tranh anh, không đơn giản là câu chuyện trong Kinh Thánh. Cũng không đơn giản là nhìn nhận thế giới thông qua nhãn quan Công Giáo. Anh như muốn giải mã ngay chính cái đức tin tôn giáo nơi mình: tại sao anh tin vào Thiên Chúa? Thiên Chúa trong anh thực sự có nghĩa là gì? Sự hiện hữu của Thiên Chúa có ý nghĩa gì với sự hiện hữu của anh... Tranh tôn giáo của anh, bởi vậy, mang nặng tính chất phản tỉnh.

 

Hình ành Thiên Chúa, trong tranh anh, với cách tư duy và não trạng đó, hiếm khi là đối tượng để MÔ TẢ-như thường thấy trong nghệ thuật Công Giáo-mà thường, chỉ là những BIỂU TƯỢNG ĐƯỢC CHIÊM NGHIỆM TRONG SỰ LIÊN HỆ VỚI CÁC LOẠI BIỂU TƯỢNG KHÁC. Hình ảnh Đức Mẹ “như thật” trong tranh “Đức Mẹ Maria” đế cập ở trên, thực ra, cũng chỉ là một HÌNH HIỆU. Anh quan tâm nhiều hơn đến ý nghĩa ẩn sau. 

 

Trong “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Trí Đức đưa lên mặt tranh một loạt biểu tượng về Thiên Chúa. Giữa tranh là ảnh Chúa Giêsu. Có vẻ như đây là hình ảnh Chúa Giêsu đã được in vào tấm khăn của Nữ Thánh Vêrônica. Đè chồng lên ảnh Chúa Giêsu là dòng chữ ghi Lời Người: “Ta là anpha và là Ômega. Là con đường, sự thật và sự sống”. Ngay phía dưới dòng chữ ghi Lời Chúa, là một tờ giấy, mà nội dung, có thể hiểu như một thứ “lý lịch trích ngang” của Chúa Giêsu. Hai bên là những biểu tượng của sự khổ nạn mà Chúa Giêsu đã phải gánh chịu-ba cây đinh vẫn còn mang vết máu, vòng triều thiên gai và tấm bảng “INRI” mà những kẻ đóng đinh Người đã đính lên Thập Tự Giá của người với hàm nghĩa giễu cợt. Cả không gian nền cũng là một biểu tượng, ở đó, như ghi lại dòng dõi trần thế của Chúa Giêsu và tên những bậc Tiên Tri đã loan báo Tin Mừng Cứu Thế của Nguời…

 

Trong cái nhìn tổng thể và thoáng qua, cấu tạo bức tranh, giống như Trí Đức đang đưa ra một loạt “từ khóa” để tìm hiểu hay mô tả một con người. Qua đó, và bằng sự suy ngẫm, chúng ta có thể hiểu, dường như Trí Đức muốn khẳng định sự tồn tại của Chúa Giêsu là sự thật, bên cạnh chúng ta, và như chúng ta. Người đã chịu khổ nạn trong vinh quang mà dấu tích vẫn còn đó, ít nhất trong nỗi khát khao được cứu rỗi của mỗi chúng ta…  

 

Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn vào từng biểu tượng, chúng ta có thể nhận thấy, bên trong tác phẩm còn có những thông điệp khác. Hình ảnh Chúa Giêsu ở giữa tranh, đã không được thể hiện như một sự hiển linh-thường thấy trong tranh Thánh. Đó cũng không phải là hình ảnh một con người thật được tái tạo. Đó giản dị, chỉ là một HIỂN THỊ TƯỢNG TRƯNG về Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhìn lại hình ảnh ở trung tâm tác phẩm, điều quan trọng được nhấn mạnh hơn ở đây, là Lời Chúa. Hình như Trí Đức muốn nói: sống trong niềm tin vào Thiên Chúa, không phải là sống với hình ảnh Thiên Chúa, mà là sống với và sống trong Lời Chúa… Trong tranh, chúng ta cũng không thấy Trí Đức đưa vào biểu tượng Thập Tự Giá. Mà chỉ thấy các biểu tượng của sự khổ nạn: vương miện gai và những cây đinh còn vương vết máu. Ngay trong sự lựa chọn này, dường như Trí Đức cũng đang muốn tự nhắc nhở mình: sống trong niềm tin vào Thiên Chúa không phải là sống với các biểu tượng về Thiên Chúa mà là sống với ý thức thường trực về sự khổ nạn trong công cuộc Cứu Chuộc của Thiên Chúa…

 

“Thiên Chúa ở cùng chúng ta” của Trí Đức, như những gì đã trình bày, là sự thức tỉnh trong ngay chính niềm tin vào Thiên Chúa.

 

*

 

Vừa hoàn tất “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Trí Đức lại bắt tay vào một tác phẩm mới với đề tài tôi giáo khác. Và phải đang vật vã với nó. Không có sự đặt hàng nào. Cũng không có một hình dung trước rằng những tác phẩm rồi sẽ được đặt ở đâu. Anh đang vẽ như xét lại chính mình. Một sự xét lại sâu xa và quyết liệt.

 

Riêng tôi, tôi đặc biệt yêu thích sự đắm đuối và quyết liệt này của anh. Viết đến đây, tôi chợt nhớ một câu của Vincent Van Gogh, tôi xin trích lại đây để thay lời tạm kết: “Có nhiều người khác cho rằng, tất cả các giáo điều đều vô lý với tính cách là giáo điều. Đáng tiếc là đó vẫn là một giáo điều. Vì thế phải giới hạn ở việc làm cái gì mình làm và cố rút ra từ đó một cái gì, tìm cách làm cho nó sống động”

 

 

 

Nguyên Hưng

(Bài viết riêng cho website của Tổng Giáo Phận Sài Gòn)

1 2 3 4 5 6 7 8 Next