28.02.2005

3

Nguyên Hưng: Cho dù thiết tha mong muốn có một diễn đàn tương đối cởi mở, tự do để cùng nhau đào sâu vào các vấn đề của mỹ thuật Việt Nam hiện tại, về tương lai của nó v.v…, nhưng thật lòng, với “bàn tròn” này, tôi chỉ cảm thấy thất vọng.

Thất vọng. Bởi, tập hợp quanh “bàn tròn” đều toàn là những “tên tuổi sáng giá”, những “chuyên gia quốc tế” về mỹ thuật Việt Nam, và, ai cũng tỏ ra nhiệt tình…, nhưng lạ, những vấn đề đang được đào xới, bàn luận –ít nhất, cho đến nay- lại cứ na ná như ở các “bàn tròn lẩm cẩm” trong nước, giữa các ông, bà “cán bộ mỹ thuật” với nhau. Thì cũng quẩn quanh với những chuyện “dân tộc” với “hiện đại”, “giao lưu” với “hội nhập”… kẻ tung, người hứng v.v… Phải chăng đây là những vấn đề phổ quát, không thể không nói đến nếu muốn thảo luận về một nền mỹ thuật? Tôi tưởng, bất cứ ai có kiến thức tương đối về lịch sử nghệ thuật đều biết chắc là không phải.

Vậy, tại sao?

Ở Việt Nam, các ông, bà “cán bộ mỹ thuật” quan tâm đến những vấn đề này, đơn giản vì, họ chỉ coi mỹ thuật là phương tiện. Điều này, một phần có động cơ chính trị, đặt cho mỹ thuật (nghệ thuật nói chung) nhiệm vụ xây dựng các biểu tượng đầy màu sắc lãng mạn, nuôi dưỡng “những mối đồng cảm chung”, nhằm “đoàn kết dân tộc”, “thống nhất toàn dân” (1), nhưng phần khác, quan trọng hơn, là vì tầm nhìn lạc hậu, hời hợt. Lạc hậu, vì động cơ nói trên chỉ là sản phẩm kéo dài của lối “tư duy thời chiến”. Hời hợt, vì đã “không xem mỹ thuật bằng ngôn ngữ của nó” (nói như Như Huy), vẫn cứ qui chiếu tác phẩm nghệ thuật về “hiện thực” (2), lấy “hiện thực” làm tiêu chuẩn định giá nghệ thuật v.v… Các họa sĩ thời “đổi mới” cũng quan tâm đến những vấn đề này, bởi vì, thực tế, họ cũng chẳng hơn gì. Đa số trong họ cũng dừng lại ở tầm nhìn như vậy. “Họ thiếu ngôn ngữ để diễn đạt và đánh giá mỹ thuật trên những bình diện khác nhau” (nói như Birgit Hussfeld). Khác chăng ở họ là động cơ. Cá nhân hơn. Đó là cách nhanh nhất để vừa có danh vừa có lợi. Nói thẳng như Kaomi Izu là mang tính “cơ hội”… Còn trên diễn đàn này thì sao? Có phải bởi Nora Taylor đã “tung” (trong phát biểu ngày 19.10) và Veronika Radulovic đã “hứng” ngay sau đó (trong phát biểu ngày 20.10), để rồi mọi người, cả thảy, bị cuốn vào “trò chơi tung, hứng” như thế. Nếu giới mỹ thuật quốc tế nhìn mỹ thuật Việt Nam theo kiểu “Việt Nam trước”, “mỹ thuật sau”, như một cách nhìn, thì thật tình, tôi chẳng ngại ngần gì không nói: họ cần phải học hành lại, từ đầu. Còn khi đó đã là một kết luận trên tinh thần thực chứng, thì những “chỉ trích” của Nora Taylor chỉ dẫn chị vào con đường ngụy biện. Kết cuộc, chỉ gây rối cho người khác (những người thiếu độc lập trong suy nghĩ) và tự hạ uy tín của mình. Chẳng phải ngay trong phát biểu này, chính chị lại quay sang phê phán các nghệ sĩ Việt Nam là vẫn “tiếp tục coi các sáng tác của họ trước hết là mang tính “Việt Nam”, chứ không thể hiện những giá trị tổng quan” sao? Khi các nghệ sĩ Việt Nam tự thể hiện mình như thế, thì “chỉ trích” gì được chuyện người ta thấy mình như thế! Những “cố gắng” của Nora Taylor chỉ khả dĩ, khi chị thành thật thừa nhận: “Nền mỹ thuật nào mà chẳng có thau, có vàng. Mà thường, thau nhiều hơn vàng. Mới thấy thau mà đã kết luận thì vội vàng quá đấy! Đây, vàng đây nè! Thấy chưa? Rút lại ý kiến đi!” v.v… Riêng tôi, tôi chỉ ngại rằng, vàng mà chị đưa ra, chỉ là vàng mạ, còn lõi vẫn cứ là thau! Tôi ngại vậy, vì cái chữ “giá trị tổng quan” (universal value) trong câu vừa dẫn, có thể xem như một tiêu chuẩn nghệ thuật, thật ra không ổn chút nào, nhất là khi ngay sau đó chị phủ định “tính dân tộc-quốc gia”. Có tâm hồn nghệ sĩ nào không phải là sự nhóm họp của đủ các loại quan hệ “vũ trụ-xã hội-nhân sinh”. Khi người nghệ sĩ đạt tự do trong tư duy, nghệ thuật của anh ta có đầy đủ tất cả: một cá nhân, một dân tộc, một nhân loại cụ thể… Người ta giành giật quốc tịch của một nghệ sĩ, chỉ là giành giật quyền được tự hào (điều này cũng có ý nghĩa khích lệ cho sự tìm tòi sáng tạo nơi các nghệ sĩ trẻ, kích thích sư vận động phát triển của một nền văn hóa…). Người nghệ sĩ thực thụ là của chung nhân loại. Chỉ sợ, họ bị “điều kiện hóa” mà trở thành những “con người lâm thời”, những “nghệ sĩ lâm thời”, chỉ làm ra được những thứ “chỉ có giá trị lâm thời”!. Tóm lại, nếu tiếp tục như thế này, thì tôi đành phải nói như Birgit Hussfeld, “mệt mỏi lắm”. Sẽ chẳng đi đến đâu. Và chẳng để làm gì. Không trực tiếp nói ra, nhưng rõ ràng trong phát biểu của Đào Mai Trang cũng biểu lộ cảm nghĩ như vậy. Như Huy và Kaomi Izu đã nói đúng: “chúng ta chưa đụng chạm đến cốt tử của vấn đề”.

Trong bài “Phê bình mỹ thuật Việt Nam” mở đầu cho cuộc thảo luận “Mỹ thuật hiện đại Việt Nam đang ở đâu?” trên diễn đàn này, tôi đã viết: “Mỹ thuật Việt Nam là một nền mỹ thuật bất hạnh”. Nhiều người, không đồng ý như vậy. Nhưng thử nghĩ kỹ xem, nền mỹ thuật Việt Nam hiện tại, thực tế, không gì khác hơn, là “một nền nghệ thuật lâm thời”, gồm những “nghệ sĩ lâm thời”, làm ra những tác phẩm “nghệ thuật” chỉ có “giá trị lâm thời”, và, tất cả những điều đó, thật bất hạnh, đã không được ý thức, đã không trở thành đối tượng của phê bình. Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, do đó, không có cơ may tồn tại thực sự. Nền móng của nó, nói một cách hình tượng là “đầm lầy”. Trên “đầm lầy”, không ai có thể xây dựng lâu đài. Ngay ý định đi đứng cho thẳng lưng cũng không thể. Nổi trên bề mặt hiện nay, chỉ là những cố gắng “lăn, lê, bò, toài” hay “bấu víu vào một cái gì đó”. Ở Việt Nam, ý kiến này, tôi đã phát biểu nhiều lần, trên báo, nơi này nơi kia, nhưng cũng đã bị chìm lấp. Chưa bao giờ được đào xới. Cho dù chỉ là phản bác. Điều này không khó hiểu. Có nhiều nguyên do. Có nguyên do “sợ vạ miệng”. Nỗi sợ cố hữu của người Việt Nam. Có nguyên do khác, “đáng sợ” hơn, đang ngự trị trên tâm lý số đông người Việt Nam hiện tại, là sự đánh mất ý thức về một “trách nhiệm chung, một tương lai chung”. Suy nghĩ “đời người ngắn lắm…” chi phối một cách phổ biến, khiến cho ai cũng tinh khôn theo kiễu “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”. Chuyện “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” chẳng mấy khi nghe ai nhắc… Có nguyên do khác, hết sức căn bản, là hạn chế của tầm nhìn. Ở Việt Nam, ai cũng biết, sự ra đời Thuyết Tương đối của Einstein, Phân tâm học của Freud v.v…đã làm thay đổi cách suy nghĩ của nhân loại thế kỹ 20, nhưng cụ thể, chúng đã đóng góp những tiền đề gì cho cách suy nghĩ mới đó, và cụ thể, cách suy nghĩ mới đó như thế nào v.v… thì phần lớn đều “mơ màng”. Nói vậy vẫn “cao vời”. Thực tế “bi thảm” hơn. Một “tú tài” ngày nay, chẳng biết chút gì về Tâm lý học đại cương, Xã hội học đại cương, chẳng biết chút gì về Luận lý học…, thì riêng chuyện tự biết mình, có suy nghĩ độc lập, đối với họ đã là điều thậm chí không được ý thức. Ngay cả trong giới “được gọi là trí thức”, “có tên tuổi”, không ít người vẫn không phân biệt được giữa cái “tự do bên ngoài” và “tự do bên trong” khác nhau như thế nào. Bởi vậy, có người, khi bị kiềm chế, do yêu cầu tồn tại, vẫn “kiên cường ý chí”, nhưng khi “được uống rượu Tây”, thì “xỉn”, nói năng quờ quạng…Vân vân và vân vân. Chập chùng nguyên do. Với những nguyên do như vậy, mà cốt lõi là cá nhân không có cái bản lĩnh của con người tự do, thì còn hy vọng gì được nữa! Chị Trịnh Thị Minh Hà nếu sống trong n ước, thì cũng chìm lấp như vậy thôi. Giờ, ở nước ngoài, chị có làm gì, thì trong nước, cũng chẳng mấy ai biết… Nói chung, Mỹ thuật Việt Nam hiện tại tồn tại như những ảo ảnh.Không thể phát triển. Không lưu dấu vết ở bất kỳ nơi đâu. Kể cả trong tâm thức người Việt Nam. Là người Việt Nam, tôi chẳng vui sướng gì khi nói như thế.(Hơn nữa, đang sống trong nước, tôi biết, trách nhiệm về lời nói của mình rất nặng nề…). Nhưng, đó là một sự thực, mà tôi tin, không phải riêng tôi, mọi người Việt Nam, sớm muộn gì rồi cũng phải đối diện. Đối diện, và phải tự đề ra cho mình những nhiệm vụ mới. Bằng không, chính mình cũng chỉ sẽ tồn tại như một ảo ảnh.

1)Những cái mà Kaomi Izu gọi là “cái bẩy tượng trưng chủ nghĩa tự tạo với các ngộ nhận về cái “văn hóa làng” độc đáo của mình”- hiểu thành “tư duy văn hóa làng” như Mai Chi là sai; còn đồng nhất với “cái ngưỡng dân tộc” như Dương Phúc An cũng chẳng đúng tí nào!

(2) Những chữ hiện thực này, tôi để trong ngoặc kép, vì ở Việt Nam, nó cũng được hiểu rất riêng…
(29.10.02)

Nguyễn Như Huy: Ðể nói rõ hơn về vấn đề “thao tác nghệ thuật bằng ngôn ngữ nghệ thuật “ tôi xin có mấy ý kiến sau:
Cái mà tôi cho rằng nghệ sỹ VN hiện nay thiếu là việc họ thao tác nghệ thuật mà phần lớn không hiểu hay không để ý tới sự phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật. Nói cách khác, họ không có một ý thức nghiêm túc về vai trò quan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật (mối quan hệ của tất cả những thứ được dùng để tạo nên tác phẩm) trong nghệ thuật.
Vào thời điểm hiện nay, một số nghệ sỹ của VN đã và đang làm nghệ thuật theo hướng không coi sơn dầu là một chất liệu tối thượng trong hội họa nữa. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là: đã có thể coi các tác phẩm của những nghệ sỹ này là những minh chứng cho cái gọi là sự phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật VN hay không?
Vấn đề này cần phải bàn kỹ hơn.
Theo tôi nghĩ, người sử dụng một chất liệu hay hình thức nghệ thuật mới (xin lưu ý, nhìn từ một góc độ nào đó, những hình thức mới của nghệ thuật cũng được sinh ra từ sự thay đổi các quan niệm về chất liệu) phải có ý thức rõ rệt về khả năng, lợi thế của sự biểu hiện, sự phát triển hay những hạn chế của chất liệu đó – để cho, ít nhất không dùng sai, hay phí phạm chất liệu hay ngôn ngữ nghệ thuật trong việc thể hiện ý đồ của mình.
Tôi xin lấy một ví dụ về việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đúng lúc, đúng chỗ và đúng mục đích trong nghệ thuật điện ảnh chẳng hạn. Trong bộ phim “ Kagemusa “ của đạo diễn Nhật bản Kurosawa: bộ phim nói về một kẻ đóng thế vai cho một vị lãnh chúa đã chết. Trong phim có cảnh kẻ đóng thế bước đi ngược chiều ánh sáng. Cái bóng của hắn dổ dài và dần dần lớn lên sau lưng hắn và khi máy zoom lên cao, có cảm giác rằng cái bóng của kẻ đóng thế (không còn của kẻ đóng thế nữa) –bằng ngôn ngữ điện ảnh – đã trở thành cái bóng của chính vị lãnh chúa đang đè nặng lên đôi vai của kẻ đóng thế bất hạnh.
Thử tưởng tượng cũng ý đồ này mà lại được thể hiện bằng cách khác, phi hình ảnh, chẳng hạn như bằng lời thoại thì sẽ mất hay đi đến thế nào.
Bản thân tôi có cảm giác rằng hầu hết các nghệ sỹ VN hiện nay, những người đang sử dụng những hình thức (gọi là) mới của nghệ thuật có vẻ như không hiểu lắm về cái mà họ đang sử dụng và vì thế mà cho tới nay (riêng tôi có cảm giác rằng) họ chưa bao giờ sáng tác trong tư thế của một nghệ sỹ bình đẳng trước chất liệu (chứ chưa nói đến làm chủ chất liệu hay sáng tạo ra một cách thể hiện mới ), hay nói cách khác, họ chưa bao giờ sử dụng chất liệu như một người lành nghề sử dụng công cụ của mình.
Theo nhận xét của tôi, hầu như tất cả những tác phẩm sắp đặt, trình diễn hay video của các nghệ sỹ VN - dù là về đề tài nào đi nữa (dân tộc hay hiện đại) - vẫn chỉ như là tiếng kêu ngỡ ngàng của các nghệ sỹ trước các chất liệu hay hình thức, ngôn ngữ mới, hay nói cách khác, những điều mà họ thể hiện bằng chất liệu mới vẫn chỉ là những thứ mà nếu có thể hiện bằng các ngôn ngữ cũ hay hình thức cũ cũng chẳng bớt rõ ràng hoặc bớt hay đi bao nhiêu, thậm chí còn hay và rõ ràng hơn nhiều nữa – đấy là chưa kể những nghệ sỹ sử dụng những ngôn ngữ hay chất liệu mới chỉ đơn giản để có dịp sử dụng chất liệu mới, chứ thật ra không có gì để nói cả. (Nếu cần tư liệu đọc thêm, xin xem cuốn “Họa sy, kẻ sáng tạo nên mình “ của Nguyên Hưng – bài “Ðôi điều về nghệ thuật sắp đặt“ ).
Chính vì không nắm rõ các cách diễn đạt mới trong nghệ thuật (mà vẫn làm vô tư ) nên đã xẩy ra một tình trạng tuyệt đối không chuyên nghiệp như hiện nay. Có nghĩa là - nhìn bề mặt - nghệ thuật VN cũng có đủ gần hết các hình thức nghệ thuật đã và đang phát triển trên thế giới - tuy nhiên, cái chủ nghĩa đương đại này ở nghệ thuật VN (theo tôi) chỉ là một thứ chủ nghĩa đương đại “mang máng “ hay nói cách khác – cái gọi là những cách tân của nghệ thuật đương đại ở VN chỉ là những phương cách vội vàng - để các nghệ sỹ VN chứng minh với thế giới tình trạng ngoại phạm của mình - trước hiện thực đang có thật của nghệ thuật VN hiện nay, một hiện thực mà nếu muốn có một sự thay đổi nào đó, dù là rất nhỏ, người ta có lẽ cũng sẽ phải làm rất nhiều việc (đây là một đề tài rộng lớn khác) chứ không chỉ bằng cách thỉnh thoảng quét sơn đỏ lên bò hay trâu, múa may quay cuồng ngoài bờ đê, hay ngồi trước đàn piano đánh những hợp âm ngô nghê và mặc nhiên coi đó là vô điệu tính.
Qua những bức xúc của chị Natasha hay Veronica, tôi hiểu rằng các chị - bằng các nỗ lực rất văn hóa của mình - đang rất muốn thay đổi bộ mặt của nghệ thuật VN và đang rất khó chịu với tình trạng nghệ thuật souvernir thật (đang) tồn tại ở VN. Là một nghệ sỹ, tôi xin chia sẻ với các chị những cảm xúc đó.
Tuy nhiên, cũng chính vì lý do là một nghệ sỹ mà tôi cho rằng còn có một tình trạng nguy hiểm hơn đang chi phối nghệ thuật VN, tình trạng mà có lẽ - ở vị thế của mình - các chị không muốn quan tâm, đó là tình trạng của cái gọi là : nghệ thuật cách tân giả hiệu (cũng đang) tồn tại ở VN, và theo tôi, đây chính là một tình trạng nghiêm trọng hơn cả.
Nhân tiện đây cũng xin kể với các chị một câu chuyện.
Ở trong chương Ứng đế vương của Nam hoa kinh có một câu chuyện thế này: Có 2 ông bạn, một ông tên Thúc, một ông tên Hốt cùng chơi thân với 1 ông bạn khác tên là Hỗn Ðộn. Ông Hỗn Ðộn thì rủi thay (hay may thay) chẳng có đủ mắt, tai, miệng và mũi như 2 ông bạn kia. Một hôm ba người gặp nhau, hai ông Thúc và Hốt nghĩ bụng, cái ông Hỗn Ðộn này không có đủ mắt mũi và miệng tai giống mình thì làm sao có thể sống được, bèn đè ngay ông bạn (dại) ra để khoét mắt mũi tai mồm cho ông bạn. Mỗi ngày khoét một lỗ và tới ngày thứ bẩy, tất nhiên ông bạn chết tươi.
Các chị thấy không, từ thời Trang Tử, làm việc gì mà vội quá và không hiểu thực rõ về việc mình làm (dẫu cho mục đích rất tốt) cũng gây ra chết người đấy.
(31.10.2002)

Nora Taylor: Cám ơn Natasha với những ý kiến thú vị và trung thực của chị. Tôi vừa từ Nhật về, vẫn còn bị lệch giờ. Tôi có thăm Fukuoka và rất để ý tới mối quan tâm của người Nhật tới mỹ thuật Đông Nam Á. Tại Nhật, mối quan tâm đặc biệt không phải là mỹ thuật Việt Nam mà là mỹ thuật Đông Nam Á. Tôi không quan tâm tới việc phỏng đoán rằng người Nhật có coi mỹ thuật Đông Nam Á là “primitive” hay không, tôi quan tâm hơn tới cách nhìn của công chúng mỹ thuật. Chúng ta đã trao đổi nhiều về nghệ sĩ và về việc họ có nuôi dưỡng những cách nhìn về “chất Việt Nam” hay không, có tìm cách đưa bản sắc (identity) của họ vào trong sáng tác hay không, về những chiến lược “tiếp thị” và những cách thức làm kinh tế khác. Nhưng mặt khác tôi quan tâm tới công chúng nói chung. Nhật Bản có vẻ có một công chúng mỹ thuật rất rõ ràng mà Việt Nam không có. Tôi không nói đến người mua hay sưu tầm, tôi nói đến những người thăm bảo tàng, phòng tranh, những người tìm hiểu một cách có suy nghĩ về mỹ thuật, dùng mỹ thuật trong những cuộc tranh luận trên báo chí, v.v… Bảo tàng Fukuoka Museum of Asian Art là một bảo tàng “quốc tế” nhưng thực sự nhằm tới công chúng Nhật Bản. Nghệ sĩ tới đó xem để tìm hiểu những gì đang xẩy ra tại Trung Quốc, Triều Tiên hay Indonesia. Nhưng nó cũng mặc định là người xem biết được những ý kiến gì đang đáng lưu ý tại những nước đó. Nhiều tác phẩm có thông điệp chính trị và nhiều nghệ sĩ các nước này thể hiện sự giận dữ của họ với chính quyền. Tôi tự hỏi liệu các nghệ sĩ Việt Nam có quan tâm tới việc sáng tác cho một công chúng Việt Nam “tưởng tượng”/”imagined”, một công chúng phản ứng với sáng tác của họ, thích hoặc không thích, hay nhận được thông tin từ đó. Tôi biết một số nghệ sĩ dùng sáng tác của mình để xuất phát những tranh luận trong công chúng về mỹ thuật nói chung, nhưng những người như thế hiếm. Cũng đáng lưu ý là bảo tàng Singapore Art Museum và bảo tàng Fukuoka cũng thích sưu tầm mỹ thuật từ thời thực dân. Cả hai nơi này đều đều đặn mua các tác phẩm từ Việt Nam, vậy tôi không muốn nói là mỹ thuật Việt Nam không được phổ biến trên quốc tế, nhưng người xem chỉ giới hạn là người xem của những bảo tàng châu Á, và những người sưu tầm châu Âu thích “trâu”. Đố ai nêu lên được một bảo tàng phương Tây đã mua sáng tác của các nghệ sĩ Việt Nam.

Cuối cùng, để đi xa hơn cuộc trao đổi về chất Việt Nam, tôi thấy rằng từ khi Việt Nam xích lại gần ASEAN và với những cố gắng trưng bày mỹ thuật Việt Nam của các bảo tàng và phòng tranh Singapore và Malaysia, đã xuất hiện một các bản sắc tập thể của ASEAN trong việc marketing mỹ thuật Việt Nam. Tại Fukuoka, Việt Nam chỉ là một trong nhiều nước Đông Nam Á được giới thệu.

Vậy câu hỏi của tôi là: tại Việt Nam, ai là công chúng của mỹ thuật Việt Nam? Ai là công chúng của mỹ thuật nói chung? Có phải nghệ sĩ cũng chính là công chúng của họ, hay công luận quan tâm đến, tư duy tới và được kích thích bởi mỹ thuật Việt Nam. (31.10.02)

Mai Chi: Xin cám ơn các anh chị đã tiếp tục đóng góp ý kiến. Đáng mừng là chúng ta bắt đầu có một số khán giả tham gia. Để bàn tròn hoạt động hiệu quả hơn, tôi xin phép đưa ra một số quy định:
- Xin các anh chị hạn chế thời gian phát biểu (tối đa là 1,5 trang giấy khổ A4, cỡ chữ 12 point!). Thứ nhất là để tránh cuộc đình công của nhóm phiên dịch Talawas, thứ hai, quan trọng hơn, giới hạn độ dài sẽ bắt buộc chúng ta phải xúc tích hơn và tập trung vào vấn đề.
- Để tránh hiện tượng bản tiếng Anh và tiếng Việt bị gửi lệch nhau hai ba ngày, và mọi người lên tiếng chồng chéo lên nhau, tôi đề nghị từ nay các anh chị gửi phát biểu trực tiếp cho tôi (không gửi vào nhóm nữa). Talawas sẽ dịch sang tiếng kia và gửi cả hai ngôn ngữ vào nhóm cùng một lúc để đảm bảo mọi người đều nhận được thông tin vào cùng một thời điểm.
- Để tranh lan man, chúng ta sẽ tập trung tranh luận về từng chủ đề một, kết thúc chủ đề đó và chuyển sang chủ đề khác. Hiện nay chúng ta đã chạm đến những chủ đề sau :
- Bộ máy mỹ thuật phương Tây và cách nhìn của nó vào mỹ thuật Việt Nam (chủ đề đã đóng)
- Chất Việt Nam và bản sắc dân tộc (đang bàn)
- Sự khủng hoảng về nhân cách của nghệ sĩ Việt Nam
- Ngôn ngữ mỹ thuật
- Môi trường và điều kiện văn hoá, chính trị và kinh tế
- Hệ thống giáo dục
- Người làm triển lãm và công tác làm triển lãm
- Người xem mỹ thuật

Những chủ đề khác tôi muốn đưa ra là:
- Vai trò của phê bình
- Hệ thống kinh doanh mỹ thuật
- Hệ thống bảo tàng
- Vai trò của người nước ngoài làm việc trong ngành, cách nhìn của người Việt về họ và ngược lại (đây là một chủ đề bao trùm)

Danh sách trên không phản ánh thứ tự thời gian của các chủ đề. Ngoài ra, các anh chị luôn luôn có thể đăng ký các chủ đề khác trực tiếp với tôi. Danh sách rất dài nên ta sẽ không thể dừng lại ở một chủ đề quá lâu, một lần nữa mong anh chị trong phát biểu của mình tập trung vào những điều chính. Cũng đề nghị nếu anh chị nào có ý định phát biểu thì báo trước cho tôi bằng một email ngắn, ví dụ: «sẽ có bài trong hai ngày tới», để chúng ta không chờ đợi vô ích hoặc chuyển quá nhanh sang chủ đề khác.

Quay lại với cuộc thảo luận, và cũng để đóng lại chủ đề « chất Việt Nam và bản sắc dân tộc», với tư cách của moderator, tôi xin phép có một số lời đáp lại ý kiến vừa rồi của anh Nguyên Hưng:
1. Câu chuyện xung quanh « bản sắc dân tộc », « hội nhập », etc., tuy đã được bàn đến một cách bão hoà ở Việt Nam, nhưng không phải chỉ là mối quan tâm của riêng của các vị cán bộ văn hoá ở Việt Nam. Quá trình toàn cầu hoá với sức ép tinh thần và văn hoá của nó, trong thời gian qua, đã dẫn đến những phản ứng khác nhau tại các nước ngoài phương Tây. Ở Trung Quốc, từ những năm 90 đã xuất hiện những tranh cãi xung quanh sự tự chủ của mỹ thuật Trung Quốc cũng như ảnh hưởng và quyền lực của giới mỹ thuật nước ngoài. Tại Thái Lan, đặc biệt sau khủng hoảng châu Á vừa rồi, người ta từ chối « cái phương Tây » và đi tìm « chất Thái » (tôi không muốn bàn đến họ thành công hay không thành công). Ở Singapore, thanh niên hô khẩu hiệu «We don’t want to copy the West, we don’t want to be second-best”. Cuộc tranh luận về “Asian values”, không chỉ riêng trong nghệ thuật, đã kéo dài hàng chục năm nay và chưa nhìn thấy kết thúc.
2. Không may, tại Việt Nam cuộc tranh luận này nằm gọn trong tay của luồng “chính thống” (mainstream), và do đó một chiều, cũ kỹ và mệt mỏi. Đây là những lý do cơ bản tôi muốn đem đề tài này vào bàn tròn. Nếu như bàn tròn này có một giá trị nào đó với người nghe thì đó là việc chúng ta cung cấp cho họ những thông tin mới, những cách đặt vấn đề mới, những câu hỏi mới (không nhất thiết phải là câu trả lời). Đánh giá rằng những ý kiến được phát biểu trong thời gian qua, về nội dung giống ý kiến của các cán bộ văn hoá Việt Nam, là một đánh giá sai lệch.
3. Tôi không muốn bình luận thêm về hình ảnh “trò chơi tung hứng” của anh Hưng, chỉ muốn lưu ý rằng, những so sánh như vậy không đóng góp tích cực gì cho nội dung bàn tròn và do đó, không cần thiết.

Tiếp tục với vấn đề đạo đức và nhân cách của người nghệ sĩ, tôi cho rằng anh Hưng đã đưa ra một điểm quan trọng khi anh nói hiện nay những nghệ sĩ “không có suy nghĩ độc lập” và không có “bản lĩnh của con người tự do”. Hou Hanru (một trong những curator quan trọng nhất của trung Quốc, sinh năm 1963), khi được hỏi thế hệ anh tới nay đã làm được điều gì đáng kể nhất, trả lời: “điều quan trọng nhất là chúng tôi đã thực sự trở thành những cá nhân (individuals)” Có lẽ chúng ta chỉ đang chứng kiến những bước đầu tiên của quá trình này tại Việt Nam? Nghệ sĩ Việt Nam cần những năm tới, những thập kỷ tới để đi ra ngoài, hiểu bên thế giới bên ngoài hơn, hiểu Việt Nam hơn, hiểu mình hơn để có thể giải phóng mình, trở thành những cá nhân độc lập?
(1.11.02)

Nguyễn Đại Giang : Tôi là một họa sĩ Việt Nam, hiện sống ở Seattle, Mỹ. Năm 1997, trong cuộc thi quốc tế với cái tên: « Những họa sĩ tài năng nhất, được tổ chức ở Stockhom, Thụy Điển, tranh Upsidedown của tôi đoạt được giải 3. Người ta ghi tên tôi là họa sĩ của Mỹ và nhờ nghệ thuật tôi đã bay vượt khỏi biên giới chủng tộc để trở thành họa si quốc tế, họa sĩ Việt Nam, họa sĩ Mỹ v.v… Đồng bào Việt Nam hải ngoại rất vui mừng, phấn khởi vì có một hoạ sĩ Việt Nam hội nhập vào nền văn hóa của nước Mỹ và tài năng được thế giới nghệ thuật công nhận. Thực sự lúc tôi vẽ tranh Upsidedown gửi đi thi, thì tôi quên hết đâu là dân tộc tính, đâu là truyền thống, đâu là cơm áo gạo tiền, quên hết mọi hệ lụy của đời sống v.v… mà tôi chỉ nhớ có một đìêu: là tìm trong tôi cái bản ngã của tôi và vẽ nó. Tôi nghĩ rằng chính cái bản ngã của tôi là Việt Nam đó, cái Upsidedownism trong nghệ thuật là Việt Nam đó, nhưng không chỉ có Việt Nam, ma còn của dân tộc Mỹ và các dân tộc khác. Tháng 8 năm 2001, sau triển lãm cá nhân đầu tiên của Upsidedownism tại Seattle nhà phê bình mỹ thuật Anna Fahey viết trên tuần báo nghệ thuật Weekly Seattle: "Dai Giang' s quirky style, Upsidedownism subvects the history of Westen art " (Bằng phong cách hài hước Upsidedownism cua Dai Giang đánh đổ lịch sử mỹ thuật phương Tây). Thực ra Upsidedodwnism đưa ra một cách nhìn mới mang đầy tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam, đưa ra một hệ thẩm mỹ mới mở đầu cho cuộc cách mạng nghệ thuật của thế kỷ 21. Thực ra nó chỉ làm giàu có thêm cho lịch sử mỹ thuật phương Tây. Tôi đã lựa chọn đúng nghĩa của: Tự do sáng tác, mà càng Tự do bao nhiêu thì nghệ thuật càng bay bổng bây nhiêu. Sự Độc lập Tự do của người họa sĩ là cốt tủy của Sáng tạo mà muốn sáng tạo phải phá vỡ những biên cương lãnh thổ, chủng tộc, phong tục tập quán v.v… để đi đến cái toàn mỹ của thời đại ngày nay. Tôi chẳng cần vẽ để giới thiệu tôi là người Việt Nam mà tôi cần vẽ hay, vẽ độc nhất vô nhị và kết quả được thể giới công nhận thì chính cái đó làm rạng danh dân tộc Việt Nam và niềm tự hào của nước Mỹ vĩ đại. Tôi rất đồng ý với Nguyên Hưng rằng mỹ thuật Việt Nam phải có đội ngũ những nhà phê bình giỏi . Cái khó nhất phải biết phân biệt của giả và của thật, cái đã hiện ra và cái tiềm ẩn ở bên trong. Người họa sĩ cần nhà phê bình như một võ sĩ cần một huấn luyện viên. Tôi thích thú về anh Kaomi Izu có 3 mặt nhìn, 2 mặt nhìn bể nổi, 1 mặt nhìn bề chìm của MTVN một cách chuẩn xác. Anh đã từng nói trong bài phỏng vấn của Nguyên Hưng: MTVN có tương lai. Xin cám ơn các bạn.
(04.11.02)

Kaomi Izu : Xin trao đổi với Patrick (tôi trình bày theo trình tự ý kiến của bạn, 28.10.02):
Về “tiền đề cơ bản của ông”: Không có tiền đề này. Bạn đã không đọc kỹ ý kiến ngày 21.10 của tôi, và của những người khác trước tôi. (Lưu ý, đây là một “bàn tròn”, mọi ý kiến đều cần đặt trong tương quan với các ý kiến khác. Dĩ nhiên là trong “bàn tròn”). Mấy chữ “mạnh mẽ, đầy sức sống” tôi phải để trong ngoặc kép, vì đó là ý kiến của chị Veronika ngày hôm trước, 20.10. (Tôi thừa nhận đã sơ sót không ghi chú). Và trong mạch ý kiến của tôi, sự trích dẫn này, không nhất thiết có nghĩa là tôi đồng tình. Thấy có tiền đề này là do bạn nhầm.

Về “khó mà nhìn ra được một tương phản nào” (giữa “cái nhìn mang tính dân tộc-quốc gia” và “cái bẩy tượng trưng chủ nghĩa tự tạo với các ngộ nhận về cái “văn hóa làng” độc đáo của mình”): Tôi muốn hỏi lại bạn, bạn có cho rằng gương mặt tự nhiên của bạn, gương mặt đã được “trang điểm” khi ra đường của bạn, với cái “mặt nạ” có thể có cũng của bạn khi đối đãi với người đời v.v…là không có sự tương phản nào, và, nó không nói lên được điều gì sao? Phải ngây thơ lắm mới nghĩ như thế! Cũng ngây thơ không kém, nếu bạn không thấy sự tương phản nào giữa “tính dân tộc” trong suy nghĩ của giới nghệ sĩ và trong các chiêu bài chính trị…!

Về “vì những vấn đề thuộc văn hóa làng VỐN ĐƯỢC XEM (tôi nhấn mạnh, K.I.) là thành tố “dân tộc” (Việt Nam)”: bạn tin thế ư?! Câu hỏi của chị Natalia trong phát biểu ngày 27.10, “Tại sao chị không bao giờ vẽ trâu? Thu hoạch ổn định ở Hà Nội đấy”, không biết sẽ gợi cho bạn suy nghĩ gì? Có “trơ trẽn” lắm không?…!

Về “lập luận dựa trên cái “luồng bình dân” này”… Điều này thì bạn đã tưởng tượng ra hoàn toàn. Bạn không hiểu ý kiến của tôi, hay bạn chỉ xem ý kiến của tôi như một cái cớ để phản biện chơi?! Ý tôi, tóm tắc như sau: Chúng ta, những người nước ngoài, có thể biết gì về mỹ thuật Việt Nam, khi mà, những thứ chúng ta thấy được, là những thứ đã được chọn lọc dưới “quan điểm định hướng” của nhà nước Việt Nam và qua sự yêu thích của công chúng vốn ít hiểu biết về nghệ thuật và không thực sự có nhu cầu nghệ thuật, và khi mà, khả năng phát hiện của các curators nước ngoài, nhìn chung, cho đến nay, còn nhiều điểm đáng ngờ… Ý kiến của tôi như vậy đâu có quan hệ gì đến “lập luận dựa trên cái “luồng bình dân” này”…của bạn?!

Xin trao đổi với Mai Chi:
Không chờ đến khi “quá trình toàn cầu hóa với sức ép tinh thần và văn hóa của nó” mà “trong thời gian qua”, vấn đề “bản sắc dân tộc”, “hội nhập”v.v… mới trở thành mối quan tâm nóng sốt ở nhiều nơi. Xưa lắm rồi, và lúc nào cũng vậy, ở đâu có sức ép từ bên ngoài thì ở đó ”, vấn đề “bản sắc dân tộc”, “hội nhập”v.v… sẽ được đặt ra, nhất là khi giới chính trị muốn tìm kiếm một sự đồng thuận nào đó. Đó “không phải chỉ là mối quan tâm riêng của các vị cán bộ văn hóa ở Việt Nam”. Bạn nói đúng. Nhưng cần thêm, đó, chủ yếu, là quan tâm chung của những người làm chính trị ở khắp mọi nơi. Và, thường, đó là những nổ lực thất bại ở góc nhìn nghệ thuật…

Về vấn đề này, cho đến nay, chúng ta đã cung cấp được “những thông tin mới, những các đặt vấn đề mới”, như Mai Chi nói chưa? Theo tôi, sự “thất vọng” của Nguyên Hưng không phải không có cơ sở. Chúng ta vẫn đang lẩn quẩn trong sự đối lập giữa “cách nhìn mang tính dân tộc-quốc gia” với “những giá trị tổng quan”, trong khi vẫn chưa xác định được “những giá trị tổng quan”, và cả “cách nhìn mang tính dân tộc-quốc gia” thực sự có nghĩa là gì. Sự lẩn quẩn này, không khác sự lẩn quẩn trong các “bàn tròn” ở Việt Nam. Đọc lại biên bản “bàn tròn”, bạn sẽ thấy, khi có ý kiến của Patrick, vấn đề mới ít nhiều được lật lại ở một cấp độ khác. Đó là vấn đề bản chất của vấn đề. Nó rất gần với ý kiến của Nguyên Hưng khi nói chuyện “đầm lầy” và chuyện “bản lĩnh của con người tự do”. Khác, chỉ ở điểm nhìn…
(04.11.02)

Patrick Raszelenberg: Khi một mặt đồng ý rằng “dân tộc”, “hiện đại” v.v… là những khái niệm không thể tránh khỏi khi bàn tới mỹ thuật, nhưng mặt khác tước đi những giá trị xuyên xuốt của chúng, Nguyyen Hưng đã nhầm, quá nhầm. Chúng là những thành phần của một cách tiếp cận cố gắng đánh giá những sáng tác nhất định, chứ không phải là công cụ phổ cập để dùng mọi nơi mọi lúc, không phân bịêt. Chúng có thể sai bét nếu dùng để phân loại – và tôi tin như vậy – nhưng chúng xuất hiện không những khi chúng ta tranh luận về những sáng tác nhất định, mà cả trong những suy nghĩ của chúng ta. Vứt chúng đi thì thật đơn giản, nhưng để vượt qua chúng đi thẳng vào cái giá trị “thuần tuý mỹ thuật” thì là một câu chuyện khác hẳn.

Sự báo động và bực bội của Nguyên Hưng về cách suy nghĩ phổ biến ở Việt Nam rằng “mỹ thuật là công cụ” thật là lạ, bởi nó quên mất một điểm: cáu kỉnh về chuyện mỹ thuật bị chính trị làm công cụ chỉ làm ta quên mất sự khó chịu của ta về chức năng hoàn toàn “vị nghệ thuật” của nó. Mỹ thuật luôn luôn là công cụ, hoặc cho những thể hiện của một đầu óc sáng tạo tài năng, hoặc cho những suy tính chính trị tức thời của một số cán bộ.

Sự lên án của Nguyên Hưng rằng “các nghệ sĩ của thời đổi mới” hoàn toàn không hay ho gì hơn những người chỉ quan tâm tới khía cạnh “hiện thực” của một tác phẩm, mặc dù đúng và có lý, nhưng hoàn toàn không có giá trị gì cả, bởi khi mấy thế hệ đã được đào tạo trong những kinh điển của chủ nghĩa hiện thực XHCN thì phải cần nhiều hơn một thập kỷ để thay dổi ngững khái niệm đã ăn vào máu này.

“Nếu giới mỹ thuật quốc tế nhìn mỹ thuật Việt Nam theo kiểu “Việt Nam trước”, “mỹ thuật sau”, như một cách nhìn, thì thật tình, tôi chẳng ngại ngần gì không nói: họ cần phải học hành lại, từ đầu.”

Cũng là một đề nghị đấy chứ… “học lại từ đầu”. Cứ giả sử Nguyên Hưng đúng khi cho rằng người nước ngoài coi những tác phẩm Việt Nam là Việt Nam trước, rồi sau đó mới là mỹ thuật, thì cũng có thể cách nhìn đó có những lý do riêng chứ. Tôi cho rằng chúng ta đều thấy cách nhìn này là lạ, nhưng ít nhất tôi không muốn khuyên người khác, kể cả những kẻ không biết gì, là phải “học hành lại, từ đầu”. Hơn thế nữa, đọc ý kiến của Nguyễn Đại Giang gần đây và những mô tả về phản ứng của người Việt Nam ở hải ngoại với triển lãm “Upsidedown” của anh, ta không thể không cho rằng sắc tộc và dân tộc tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong mỹ thuật.

Tôi không hiểu tại sao Hưng muốn xác định xem nghệ sĩ thuộc về “cả thế giới”, hay “nghệ sĩ thực thụ là của chung nhân loại”. Điều đó cũng giống hệt như việc cho rằng anh ta thuộc về một văn hóc hay quốc gia cụ thể nào đấy. Cuối cùng thì nghệ sĩ chính là ngừơi quyết định anh ta là gì hay là ai, không phải giới phê bình hay các cơ quan mỹ thuật, lại càng không phải ai trong cái bàn tròn này. Nếu như Việt Nam sản sinh ra một thiên tài được công nhận chung như Picasso, liệu Nguyên Hưng có còn khăng khăng rằng ông ta không phải người Việt Nam mà thuộc về mọi người không? Lúc đó anh có thể nói ông ta thuộc về mọi người nhưng vẫn và trước hết là người Việt Nam, và chỉ người Việt Nam mới thực sự hiểu ông ta.

Chúng ta sẽ ngây thơ khi cho rằng khi phê bình mỹ thuật đưa ra những cách nhìn quý tộc như vậy thì bản thân những nghệ sĩ sẽ không tự khoác cho họ những giá trị này, đặc biệt khi họ thành công. Điều này được minh họa một cách thú vị bởi một ví dụ lấy trong hồi ký của Nguyễn Hiến Lê:

“Dưới chân núi, khắp trong vùng này có rất nhiều ông “đạo” kỳ cục, ông thì nằm suốt năm, gọi là “Đạo Nằm”; ông thì chỉ ăn ớt, gọi là “Đạo Ớt”; ông thì nói gì cũng chỉ “ừ” gọi là “Đạo Ừ”... ông nào cũng có một số nông dân chất phác nghe theo, cũng phụng đủ thứ” (Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, NXB VH, Hanoi 1997, tr.142).

Chúng ta có thể thay “một số nông dân chất phác” với “một số viên chức nghệ thuật chất phác’ J
(04.11.02)

Veronika Radulovic: Tôi đồng ý với anh Tuấn rằng mỹ thuật và nghệ sĩ Việt Nam cần không khí và những cánh cửa mở rộng. Cả hai đều là những điều không rõ ràng, không có định hướng gì cả.

Natasha, chị hỏi tôi sau khi tốt nghiệp thì sinh viên sẽ làm gì, khi họ chỉ được trang bị một vốn đương đại hạn chế. Tôi chỉ là một phần của cuộc đối thoại, thế thôi. Họ sẽ đi con đường của họ, chứ không phải của tôi, hay của chúng ta. Họ ở trong một quá trình vẫn chưa kết thúc. Tôi là một điểm, chúng tôi có thể chia xẻ suy nghĩ trong một thời gian, không hơn không kém. Sinh viên và nghệ sĩ có quyền tự do di chuyển từ điểm này tới điểm khác. Họ không phải theo ý của tôi, chỉ bởi vì tôi là giáo viên. Không phải cái gì cũng có thể được đưa vào khuôn khổ theo luật của nghệ sĩ và theo cơ chế tiếp thị. Mọi thứ khác sẽ là áp đặt và giáo điều.

Tôi không có lời giải. Những đề nghị cho những lời giải đã được nêu trên bàn tròn này làm tôi thấy sợ. Tôi tự hỏi mọi việc đơn giản thế chăng? Chúng ta quan sát, nghiên cứu… và sao nữa? Có người đòi hỏi một cuộc đại phẫu thuật, phê bình, người khác đòi hỏi tiến bộ trong ngôn ngữ mỹ thuật. Anh Kaomi chỉ ra sự nhập nhằng (confusion) của các nghệ sĩ Việt Nam, và cả của tôi. Vâng, tôi muốn nhấn mạnh: tôi là một nghệ sĩ, không phải là một nhà phê bình hay quan sát viên hay nhà sử học. Tôi tự do với một cái đầu nhập nhằng.
Sự mơ hồ không phải là một nguồn năng lượng sáng tạo lớn nhất hay sao? Sự hoài nghi và những câu hỏi. Đặc biệt sau một thời kỳ dài của một sự giáo dục ngăn nắp cũng như của cách sống và nghĩ như vậy, chúng ta cần có nhiều mơ hồ hơn nữa. Có lẽ lời giải là sự tuyệt vọng. Chưa bao giờ người ta có thể quan sát nghệ sĩ một cách đơn giản. Hy vọng những nghệ sĩ sẽ nguy hiểm một cách bất ngờ.

Mai Trang, phát biểu của chị thật tuyệt vời. Tôi muốn nhắc lại câu hỏi của chị: bao nhiêu người trong số chúng ta có thể cảm nhận được cái “Việt Nam tính”. Tôi không biết phải trả lời câu hỏi cuối của chị như thế nào: về tinh thần chủ động và tự chủ. Tôi không chắc tôi hiểu rõ chị. Chị nhắc tới một điểm quan trọng mà từ trước vẫn chưa được chú ý tới: trách nhiệm của nghệ sĩ. Dưới cách nhìn tiếp thị thì nhiều nghệ sĩ đã có sự chủ động. Với sự diễn đạt chính trị và cá nhân thì chỉ mới một số. Trở lại với Minh Hà, chị là phụ nữ và khái niệm mỹ thuật nữ đã được nhắc đến. Những khía cạnh tiểu sử và trách nhiệm cá nhân có vẻ rõ ràng hơn trong nghệ thuật nữ là trong giới mỹ thuật quốc tế thường được chiễm lĩnh bởi nam giới. Tất cả những điều này tối với tôi quan trọng. Không cần biết là chúng ta ở đâu: bên trong hay bên ngoài một quốc gia. Minh Hà đã thể hiện điều đó.

Về cuộc tranh luận của chúng ta, bởi vì anh Hưng đã nói đến: chúng ta ở trong một cuộc tranh luận tự do và cởi mở. Anh Hưng, tại sao lại thất vọng? Mọi việc đều có thể xẩy ra, chúng ta mới chỉ bắt đầu. Và lạy chúa, ai làm ra những tên tuổi nổi tiếng nhỉ? Tôi là một nghệ sĩ như những người khác. Ở Việt Nam tôi có một chỗ đứng đặc biệt. Nhiều người nước ngoài làm việc hay tổ chức triển lãm tại Việt Nam có chỗ đứng đặc biệt này. Đấy là một vấn đề, nhưng không phải vấn đề của tôi. Chúng ta cần phải có cái nhìn nghiêm khắc hơn đối với người nước ngoài.

Những chữ đao to búa lớn lại được tung ra: “học lại từ đầu”, “nền mỹ thuật bất hạnh”, “đầm lầy” v.v… Xin lỗi anh, sự chỉ trích của anh cũng mang cái đầm lầy này. Tôi không muốn đi theo cái yêu cầu: hãy quan sát và phân tích thật kỹ những vấn đề của mỹ thuật Việt Nam. Từ đầu tới giờ chúng ta nói về một nhóm người, về nghệ sĩ Việt Nam chung chung. Nhưng mỹ thuật Việt Nam được tổng hợp lại từ nhiều nghệ sĩ khác nhau, chứ không phải là một chỗ chung chung, đặc biệt là trong thời kỳ chuyển biến chính trị và của những “chỗ trống”. Chúng ta rất ít khi nói về một nghệ sĩ, và điều này đối với tôi là một vấn đề: sự tập thể hoá của xã hội Việt Nam, cách hiểu khái niệm tập thể và khái niệm cá nhân ở Việt Nam. Khi tôi bàn về mỹ thuật, tôi muốn bàn về một người cụ thể. Cũng như khi tôi phát biểu thì đó là ý kiến cá nhân và không đại diện cho một người Đức nào cả. Tại Việt Nam người ta phần lớn nói về một đám đông, một nhóm, một tập thể. Cá nhân không tồn tại như nó tồn tại tại châu Âu. Với Minh Hà, chúng ta nói về chị ấy, đây là một sự khác biệt quan trọng. Tôi cho rằng (và điều này cũng liên quan tới ý kiến của anh Huy): nếu tồn tại những nghệ sĩ mạnh mẽ, ví dụ như Nguyễn Minh Thanh, thì nhiều nghệ sĩ sẽ đi theo và muốn trở thành như vậy. Ở Việt Nam, không ai muốn đứng một mình.
(08.11.02)

Post a comment