06.06.2009
Sao vội thế hả anh Võ Đình?
Nhận được tin nhà văn kiêm hoạ sĩ Võ Đình từ trần, tôi không ngạc nhiên nhưng vẫn buồn. Không ngạc nhiên vì cách đây mấy tháng, đọc một bài viết của Trần Thị Lai Hồng, vợ ông, trên Gió-O,[1] tôi đã biết sức khoẻ của Võ Đình suy sụp đi nhiều lắm.
Nhớ, lúc ấy, đọc xong, tôi bần thần thật lâu. Suốt mấy ngày liền, tôi không ngớt bị ám ảnh bởi hình ảnh một Võ Đình nằm trong viện dưỡng lão, giữa bao nhiêu người già yếu và bệnh hoạn thuộc đủ mọi sắc tộc. Buồn.
Trong văn giới Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt, thuộc thế hệ trưởng thành và cầm bút trước năm 1975, tôi đánh giá cao Võ Đình. Tôi xem ông là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Xin nói ngay: trong lãnh vực này, không có một người tiêu biểu nhất. Kinh nghiệm lưu vong, dù trong lãnh vực văn học nghệ thuật, phong phú và đa dạng đến độ không có bất cứ một người nào, dù tài hoa đến mấy, có thể được xem là tiêu biểu nhất. Bóng mỗi người, may lắm, chỉ trùm lấp được một góc. Chỉ khác nhau ở phạm vi: rộng hay hẹp. Và ở cái tầm: cao hay thấp. Thế thôi. Võ Đình cũng thế. Ông chỉ có thể được xem là đại biểu cho lớp người cầm bút định cư ở nước ngoài trước năm 1975, những người tuy sống ở ngoại quốc thật lâu nhưng vẫn giữ được một cốt cách rất ư Việt Nam.
Việt Nam, trước hết, ở phương diện ngôn ngữ.
Nhiều người thường nói, và bản thân tôi cũng từng tin, nếu không từng viết hẳn ra, đâu đó, là: một trong những nguy cơ lớn nhất mà giới cầm bút lưu vong phải thường trực đối diện là thuộc phạm vi ngôn ngữ. Vốn liếng từ vựng của người ta không những không được cập nhật mà còn bị rơi rụng và hao hụt dần đi theo thời gian. Đó là chưa kể nguy cơ pha tạp, do sự tác động mạnh mẽ của ngôn ngữ chính mạch trong xã hội họ đang sống. Tất cả những nguy cơ ấy dẫn đến một nguy cơ khác, nghiêm trọng hơn: người ta mất hoặc giảm dần cảm giác về ngôn ngữ. Từ vựng tuôn ra từ tay họ không còn sức sống hôi hổi và tươi roi rói như lúc họ còn ở trong nước. Để diễn tả kinh nghiệm ấy, nhà thơ Cao Tần dùng một chữ đắc địa: “héo”: “Tiếng Việt trong ta ngày một héo.” Về phương diện lý thuyết, những lập luận như thế có vẻ hợp lý. Quên, sau mấy chục năm xa cách, đó là chuyện bình thường. Lạc hậu, so với dòng ngôn ngữ không ngừng thay đổi và sinh sôi nảy nở, cũng là một chuyện bình thường nữa. Chẳng có gì đáng phải nghi ngờ cả. Thế nhưng, nếu tất cả những hiện tượng vừa kể là phổ biến thì có lẽ chúng cũng không phải là tất yếu. Nhìn vào thực tế văn học Việt Nam ở hải ngoại, chúng ta không gặp mấy khó khăn khi tìm ra những ngoại lệ, những người xa Việt Nam đã lâu, lâu lắm, mà vẫn viết tiếng Việt hay, hơn nữa, có thể nói, thật hay. Không những hay mà còn mới. Và trẻ. Lúc nào cũng phơi phới. Kể ra thì khá nhiều, nhưng hiện ra trong óc tôi, trước hết, một số tên tuổi chính: rời Việt Nam từ 1975, tức ba mươi mấy năm rồi, có hai cây bút có văn phong cực kỳ sinh động: Võ Phiến và Đỗ Kh.; rời Việt Nam trước đó nữa, có hai cây bút viết phê bình và tuỳ bút có văn phong tài hoa và độc đáo: Phạm Công Thiện và Đặng Tiến; còn trước đó nữa, rời Việt Nam tận những năm đầu tiên của thập niên 1950 thì có... Võ Đình.
Trong bài “Viết văn bằng tiếng Việt” đăng trên tạp chí Việt số 2 ra vào giữa năm 1998, Võ Đình tự nhận ông “thuộc vào lớp người gốc Việt sống lâu năm nhất ở hải ngoại” (tr. 46). Mà đúng. Khi lớp người Việt tị nạn đầu tiên đặt những bước chân đầy bỡ ngỡ lên các mảnh đất Mỹ châu, Âu châu và Úc châu vào giữa năm 1975 thì Võ Đình đã sống ở đó đúng một phần tư thế kỷ. Mà không phải chỉ sống, ông còn hội nhập hẳn vào đời sống của Tây phương. Ông giỏi ngoại ngữ, có một số sách viết bằng tiếng Anh được xuất bản, và, với tư cách hoạ sĩ, tham gia vào nhiều cuộc triển lãm quốc tế.
Thế nhưng, Võ Đình lại rất Việt Nam. Ngoài lãnh vực ngôn ngữ, ở nhiều phương diện khác, Võ Đình cũng đều Việt Nam.
Ví dụ chuyện giao tiếp và thư từ.
Xin nói ngay, tôi không giao tiếp với Võ Đình nhiều. Ông sinh năm 1933, lớn hơn tôi 23 tuổi; rời Việt Nam sang du học ở Pháp vào năm 1950, lúc tôi chưa ra đời. Tôi chỉ gặp ông một lần duy nhất, trong một khoảng thời gian khá ngắn, vào đầu năm 1989, khi ông đến nghe tôi nói chuyện về thơ tại đại học George Mason, sau đó, dự buổi ăn tối chung với nhiều anh chị em cầm bút khác đang sống trong vùng Washington D.C., Hoa Kỳ. Thời gian nói chuyện riêng với nhau thật ít. Tôi chỉ nhớ, trong buổi ăn tối ấy, Võ Đình ngâm mấy bài thơ nói là để tặng tôi. Để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là bài “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính và bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Phải nói ngay là Võ Đình có giọng ngâm thơ điêu luyện và truyền cảm. Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhiều hơn ở ông không phải ở giọng ngâm mà là ở ánh mắt. Võ Đình có đôi mắt đẹp. Đẹp và sắc, sắc lẹm. Trong lúc ông ngâm thơ, đôi mắt ấy thỉnh thoảng lại liếc ngang, rất nhanh, quét qua một số người, dường như để thăm dò phản ứng của họ về giọng ngâm của ông. Bắt gặp ánh mắt ấy, tôi nghĩ thầm: Cẩn thận! Ông này nhạy cảm, hay tự ái và dễ hờn lắm đấy! Tiếc, tôi không có cơ hội gặp lại ông lần nào nữa để kiểm tra cái ấn tượng ban đầu ấy. Chỉ mừng thầm là dường như buổi gặp gỡ ngắn ngủi duy nhất giữa ông và tôi đã diễn ra một cách tốt đẹp. Mấy ngày sau, trong một bức thư gửi cho Võ Phiến, Võ Đình kể về tôi với những nhận xét khá ưu ái. Mấy tháng sau, nhân Hồ Trường An sang Mỹ, ông gửi tặng tôi bức tranh mộc bản “Mây Tần” vì biết tôi từng có ý định dùng hai chữ ấy để đặt tên cho con gái đầu lòng. Mười hai năm sau, vào đầu năm 2001, Võ Đình còn chịu khó xem lại cuốn băng video thu buổi nói chuyện của tôi tại đại học George Mason mà nhà văn Trương Vũ còn giữ được và cho ông mượn, rồi ông viết thư cho tôi, nói là có những chi tiết “không thể không... cảm động”. Một năm sau đó, trong bản tiểu sử tóm tắt viết dưới hình thức niên biểu gửi tôi, Võ Đình ghi sự kiện “chính” trong đời ông vào năm 1989 là “[g]ặp... Nguyễn Hưng Quốc lần đầu tại George Mason University”.[2]
Lần đầu tiên ấy cũng là lần cuối cùng. Cuối năm 2003, lúc đang ở Việt Nam, tôi nhận được điện thoại của Võ Đình báo tin ông cũng mới về đến Việt Nam. Lúc ấy tôi đang chuẩn bị ra phi trường để về lại Úc nên không thể gặp ông được. Đành hẹn một dịp khác. Cái “dịp khác” ấy không bao giờ đến nữa. Trừ phi có một thế giới nào khác. Đâu đó.
Suốt bao nhiêu năm, quan hệ giữa tôi và Võ Đình chủ yếu chỉ qua thư từ và emails. A! Chung quanh chuyện thư từ và emails cũng có lắm điều đáng nói. Võ Đình có vẻ là một người thích viết thư và đọc thư. Bức thư nào của ông gửi tôi, dù dài hay ngắn, cũng đều được viết một cách nắn nót với một chữ ký ít nét nhưng mạnh mẽ và thường khá lớn. Ông kể, ông thường giữ gìn thư từ của người khác gửi ông một cách cẩn thận, có khi cất trong các phong bì riêng. Ông không những quan tâm đến nội dung mà còn chú ý đển cả nét chữ nữa. Cho đến nay, ở hải ngoại, ông là người duy nhất có bài viết nhận xét về nét chữ của giới cầm bút Việt Nam. May mắn, tôi cũng được ông nhắc đến với một lời khen: “văn đã hay mà chữ lại tốt”, kèm theo một lời chê: đôi khi “trượt chân xuống chỗ hoa hoè”.[3]
Còn emails? Nói đến Võ Đình mà chắc đến chuyện emails, chắc không ít người quen biết ông sẽ ngạc nhiên ghê lắm. Võ Đình vốn nổi tiếng là người dị ứng với các kỹ thuật truyền thông hiện đại. Ông tự đặt cho ông hỗn danh là “Ông Lâu”, low technology, người kém về kỹ thuật.[4] Ông không thích sử dụng điện thoại. Bản thảo của ông thường được đánh máy và bỏ dấu tay. Từ đầu thế kỷ 21, chắc nghe bạn bè xúi giục, ông sắm một cái computer và nối mạng đàng hoàng. Nhưng hình như thiếu kiến thức về kỹ thuật, ông thường xuyên gặp trở ngại khi sử dụng internet. Thư từ cho tôi, ông hay than thở về chuyện ấy. Ví dụ đoạn đầu bức thư đề ngày 19.10.2002: “Trời còn mờ tối. Bắt chước bà Soa,[5] dâng hương, gióng 3 tiếng chuông. Hai tiếng đầu thật ‘ngon’, tiếng thứ 3 ngượng ngập, lạc lõng. Suy ra, có lẽ, có lẽ thôi, vì thỉnh chuông mà trí óc không được vào ‘chánh niệm’ 100%. Tối qua, vào internet, mở email ra, thấy có 2 cái messages của NHQ. Bấm, không chịu mở ra. Thì ra cái máy đã chết cứng. Lần thứ... không kể xiết.”
Trừ những lúc trục trặc như thế, bình thường Võ Đình vẫn có thể đọc được emails bạn bè gửi đến. Và thỉnh thoảng ông cũng trả lời bằng emails. Thường rất gọn. Dăm ba dòng. Hình như ông không xem những lời nhắn vội vàng và ngắn ngủi ấy là thư nên ông vẫn viết thư tay theo kiểu truyền thống. Không hiếm trường hợp, gửi emails cho ông xong, tôi phải chờ một, hai tuần để đọc phản hồi qua ngả... bưu điện. Trong bức thư gửi tôi ngày 14.3.2003, ông phân bua: “Mình chưa đến trình độ viết với máy PC (cứ lúng ta, lúng túng...) nên cứ viết tay. Kệ mình. Q. có viết cho mình thì cứ viết bằng máy!”
Tổng cộng, thời gian sử dụng emails của Võ Đình không lâu. Chỉ vài ba năm gì đó. Khoảng 2004/5 (?), ông mổ cườm mắt. Sau đó, ông không còn đọc email được nữa. Và chắc ông cũng không gửi email cho ai. Tuy nhiên, thời gian sử dụng email ngắn ngủi của Võ Đình cũng để lại một thành quả thú vị: một cuốn sách ông và tôi soạn chung.
Cuốn sách, hình thành từ sáng kiến của Võ Đình từ năm 2002, thật ra là một tập tài liệu về một nhà văn khác. Chúng tôi thoả thuận với nhau: chuẩn bị thì chuẩn bị, nhưng giữ bí mật, không nói với ai cả cho đến khi cuốn sách được xuất bản; và cuốn sách chỉ được xuất bản sau khi nhà văn ấy đã thành người thiên cổ. Nghĩa là, đó chỉ là một dự án dài hạn. Có thể còn lâu lắm. Năm năm. Mười năm. Hay lâu hơn nữa. Không có gì gấp gáp. Vậy mà, lạ, Võ Đình vẫn làm việc một cách khá hối hả: chỉ trong một thời gian ngắn, phần đóng góp của ông, dài hơn một trăm trang giấy in, đã được đánh máy cẩn thận và gửi qua tôi bằng email. Thấy ông hăng hái, tôi cũng hăng hái theo. Tôi phóng tay viết “Lời nói đầu”, gửi cho Võ Đình xem, ông đồng ý ký tên chung: Nguyễn Hưng Quốc và Võ Đình. Tôi lại nhờ em trai tôi, Nguyên Hưng, trình bày giùm bìa sách.
Cuốn sách, như vậy, xem như đã hoàn tất. Hoàn toàn.
Và để đó.
Chờ.
Không ngờ người ra đi trước lại là Võ Đình.
Melbourne 5 tháng Sáu 2009
Nguyễn Hưng Quốc
_________________________
[1]Trần Thị LaiHồng, “Manor/Mona/Mônà” đăng trên Gió O.
[2]Xem bài “Võ Đình, lý lịch trích ngang” trên Tiền Vệ.
[3]Bài “Chữ” được in trong cuốn Huyệt Tuyết của Võ Đình, Văn Nghệ xuất bản tại California năm 2002. Bài này cũng có thể đọc trên trang Gió O.
[4]Xem bài “Ông Hai Lâu” in trong cuốn Huyệt Tuyết.
[5]Một nhân vật trong truyện ngắn “Bàn thờ nhà bà Soa” của Võ Đình. In trong cuốn Huyệt Tuyết.
http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsess...
21:46 Posted in C. Bài tham khảo | Permalink | Comments (1) | Email this | Tags: vo dinh
CÁI VĂN, CÁI VẼ, VÀ CÁI ĐẸP
Võ Đình
Loay hoay vậy mà đã bốn mươi năm cầm cọ. Có khi tôi ngồi lẫn thẩn tự hỏi: Hội họa là cái chi hè? Chỉ khi người ta về già mới tự hỏi như vậy. Còn trẻ, người ta phăng phăng tiến tới, đầu óc đầy đặc những sáng tác với sáng tạo, tư tưởng với kỹ thuật, hình tượng với bố trí. Về già, người ta mới hỏi một câu cắt cớ như vậy. Nhưng không sao, hỏi rồi bỏ qua. Không cần trả lời. Không trả lời nhưng vẩn vơ nhớ lại dăm ba kỷ niệm thời nhỏ dại về cái vẫn đuợc gọi là hội họa. Chẳng hạn: Bà con cô bác đến nhà chơi đều bị thằng nhỏ … vẽ chân dung, vẽ với cái que quẹt trên mặt đất. Chẳng hạn: Lấy mủ cây sầu đông trộn với bột màu, giả làm sơn dầu. Chẳng hạn: HỤT học vẽ với cô M.H.
Số là, hồi ấy, tôi mới mười hai, mười ba, một hôm cha mẹ tôi ngồi uống nước nói chuyện. Cha tôi nói: “Bữa mô rảnh rảnh, mình dắt con ra ngoài cô M.H. cho hắn học vẽ”. Mẹ tôi nói: “Mình nói phải, để đó tui lo”. Cha tôi lại nói: “Cho con hắn ra ngoài nớ, dọn dẹp quét tước cho Cô mà học vẽ”. Chữ cô nghe có vẻ gần gũi vì hình như cô M.H. và mẹ tôi có bà con gần xa chi đó. Tôi nghe cha nói, thích lắm, thấy mình đã mon men đến đứng trước cánh cửa nghệ thuật rồi. Được làm đệ tử cô M.H., một vinh dự quá lớn lao.
Đầu thập niên 40 ở Huế, ngoài phố lớn, có một cửa tiệm được đông đảo thị dân ngưỡng mộ: tiệm cô M.H. và ba người anh em trai của cô. Bốn anh chị em đều mang những danh hiệu hai chữ đẹp đẽ: tên con gái thì mỹ miều, tên con trai thì oai vệ. Bốn anh em cô M.H. nổi tiếng tài hoa. Họ chụp ảnh chân dung, họ vẽ truyền thần, phong cảnh… Trên đường đến trường hay về nhà, tôi khoái dừng lại nhìn vô gian hàng gắn kính của tiệm cô M.H.. Thích thú vô kể. Thường thường được thấy một vài chân dung hay phong cảnh sơn dầu: Thiếu nữ xinh đẹp, mặc áo tím hay trắng, tóc chải phồng trước trán, ngón tay móc hờ trên giải nón, mắt ngước lên, xa xăm …, giòng sông lờ lửng, tháp chùa ẩn hiện sau cành trúc, cành phượng, thành cổ rêu phong trong ánh tà huy. v.v …
Khi nghe cha nói “dọn dẹp quét tước cho cô mà học vẽ”, tôi hết sức mừng rỡ, thấy câu chuyện học vẽ thật là quan trọng. Nghĩ rằng học vẽ cũng như học võ, hay đi tu. Phải tầm sư học đạo. Lên núi, lên chùa, lạy từ cổng lạy vô chưa chắc Thầy đã nhận cho làm đệ tử. Phải thức khuya dậy sớm, phải gánh nước nấu cơm, phải quét sân cuốc đất, rồi may ra Thầy mới dạy cho đôi điều. Tôi sẵn sàng vách chổi ra hầu sư mẫu ngoài phố.
Mẹ tôi nói “để tui lo”. Ngày tháng tôi qua, mẹ đâu có lo. Bây giờ, râu tóc đã bạc, nghĩ lại, tôi nghiệm ra rằng mẹ không “lo”, chẳng phải vì mẹ vô tâm. Mẹ không “lo” vì có lẽ trong thâm tâm, người đàn bà ít học mà hết sức tinh tế đó đã ngờ rằng “ngoài cô M.H.” không phải là nơi cho đứa con trai yêu quí học vẽ. Nếu quả vậy thì mẹ tôi đã “ngờ” rất phải. Tôi không bao giờ được cái vinh hạnh cầm chổi quét phòng vẽ cho cô M.H., hay cơ hội rửa cọ, chùi sơn cho các họa sĩ anh em của cô. Ở cái tuổi dễ bị ảnh hưởng nhất, tôi đã suýt học vẽ với cô M.H. Trong đời, tôi cũng đã đôi lần từng biết cái may, sự rủi. Tôi có thể nói rằng một trong những cái may lớn nhất trong đời tôi là đã không học vẽ với anh em cô M.H. Hú vía!
Không được (nhìn lui lại, nghĩ nên thay chữ được với chữ bị) học vẽ với cô M.H. nhưng vài năm sau, tôi lại được (hay bị?) đi Tây! Trên chiếc tầu thủy khổng lồ xuyên đại dương lênh đênh cả tháng từ bến Sài Gòn về biển Nam Hải, ra Ấn Độ Dương, lên Hồng Hải, vô Địa Trung Hải, đến Marseille, Pháp Quốc, tôi và dăm mống đồng hành du học sinh ngày ngày lên đứng lơ láo trên boong tầu … ngóng về cố quốc. Một hôm, thay vì ngóng về cố quốc, tôi chúi mũi vào cuốn sách nhỏ mới lượm được sáng đó dưới chân cầu thang dưới hầm tầu. (Về sau, mới biết rằng cuốn sách nhỏ ấy thuộc loại sách mỹ thuật mỏng tanh, rẻ mạt, nhắm đến tầng lớp đại chúng, do nhà Fernand Nathan ở Paris ấn hành). Cuốn sách có nhiều ảnh đen trắng tranh Picasso. Picasso?! Ở Huế, tôi từng nghe tên nhà đại danh họa. Chỉ nghe tên thôi, chưa bao giờ được thấy dù là tranh in lại trong sách. Thế mà khi xem cuốn sách nhỏ sáng đó, tôi đã bàng hoàng xúc động. Một thứ xúc động lạ lùng, chưa từng được biết. Tôi nhìn các ảnh trắng đen in lại tranh Picasso (có thể bị coi là in ấn thô thiển nếu xét theo tiêu chuẩn ngày nay) mà lòng dạ bồi hồi khôn tả.
Ở tuổi mới lớn, mười sáu mười bảy, trái tim tôi đã từng đắm đưối với những câu thơ đẹp, như “Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh” của Xuân Diệu, như “Chiều mưa trên bãi nước sông đầy” của Huy Cận, như “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong” của Thâm Tâm. Con mắt tôi đã từng ngẩn ngơ vì ngón tay của người con gái móc hờ trên giải nón bài thơ, vì dòng sông lờ lững dưới chân tháp cổ trong tranh anh em cô M.H. Lỗ tai tôi đã từng mê mẩn với nào là “Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng” của Văn Cao, nào là “Đêm nay thu sang cùng heo may của Nguyễn Văn Thương, nào là “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi” của Đặng Thế Phong … Tôi đã từng xao xuyến vì những câu thơ, vì những bức tranh, vì những điệu nhạc, lời ca … Tuy còn non dại, tôi cũng không phải hoàn toàn là kẻ xa lạ với những xúc cảm gọi là văn học nghệ thuật. Vậy mà hôm ấy, trên boong tầu, giữ đại dương, nhìn những bức tranh Picasso in lại trong sách (sau này nhớ lại mới biết đó là những tác phẩm ở thời kì bí hiểm nhất trong đời cầm cọ của ông: “Lập thể Phân tích” và “Lập thể Tổng hợp”) tôi đã bước chân vào một thế giới dị biệt với tất cả những gì tôi đã có kinh nghiệm trước đó. Nỗi xúc cảm lạ thường, dữ dội, hết sức bất ngờ.
Như có nói trên, tôi đã đôi lần biết đến sự may rủi ở đời. Một trong những cái may lớn nhất trong đời tôi là đã không học vẽ với anh em cô M.H. Nhưng đó, thật ra, mới chỉ là một nửa của cái may. Nửa kia là tôi đã được biết nỗi xúc động khi nhìn ngắm những đường ngang nét dọc, những mảng đậm nhạt của Picasso. Nỗi xúc động, sau này tôi mới biết, là một thứ xúc động thẩm mỹ nguyên chất, trọn vẹn. Nỗi xúc động đã dạy cho tôi đôi điều cốt tủy trong nghệ thuật tạo hình. Đó là, thứ nhất, cái đẹp trong một bức tranh, chính là cái đã gây nên xúc động trong ta khi ta nhìn ngắm tranh; cái đẹp đó không phát xuất từ đề tài của bức tranh không dính dấp đến những ý tưởng phụ thuộc của đề tài đó. Cái đẹp đó phát xuất từ cái cách người họa sĩ bố trí bức hoạ và sử dụng đường nét màu sắc để diễn đạt và giải quyết cách bố trí đó. Và, thứ hai, vẽ, không nhất thiết phải có hình thể, nói cách khác, không nhất thiết phải vẽ chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, hay phải sử dụng những yếu tố thuộc về “thực tại”, “hiện thực”, v.v… Thực tại của bức tranh mới là đáng kể. Người họa sĩ tạo nên thực tại này, và chỉ có thực tại này mới gây nên nỗi xúc động thẩm mỹ trong ta.
Trong mấy chục năm qua, tôi đã lắm lúc nhớ lại những tấm tranh sơn dầu sơn nước của anh em cô M.H. Nhớ lại như những ràng buộc thắm thiết với một thời nhỏ dại, như nhớ lại cây sầu đông trước ngõ hay bụi chuối sau nhà. Cô gái xinh đẹp mà e ấp, quyến rũ mà xa vời trong tranh của họ, cũng như dòng sông lãng đãng khói sương, tháp chùa ẩn hiện sau khóm trúc cành phượng, dãy thành cổ rêu phong trong “bóng tịch dương”, tất cả đều là “Huế, đẹp và thơ”. Ai cũng yêu, cũng mến. Ai cũng đều thấy như vậy. Nhưng tất cả những thứ làm nên “Huế, đẹp và thơ” ấy chẳng có liên quan gì đến hội họa cả. Chẳng những không ăn nhằm gì với hội họa, những “đẹp và thơ” ấy còn có thể gây nên phương hại cho cái nhìn ngắm của kẻ xem tranh. Cái “đẹp và thơ” đó có thể che lấp mất thực tại của bức tranh, và tạo nên ảo tưởng cho người nhìn tranh là đã thấy được tranh. Cái đẹp của thế giới thực tại bên ngoài, thế giới của tất cả mọi người, làm cho người xem tranh tưởng lầm đó là cái đẹp của tranh. Giòng sông trong mù, đẹp. Cô gái mộng mơ, đẹp. Nhưng giòng sông đẹp hay cô gái xinh kko thể tạo nên cái đẹp cho bức tranh nếu bức tranh được dàn dựng trong một bố trí khuôn sáo, ước lệ, hay được cấu tạo bởi một bút pháp kém cỏi, tầm thường.
Ngược lại, thật may mắn cho nàng Mona Lisa. Tuyệt tác của Leonardo da Vinci, cả thế giới đều biết, đều ngưỡng mộ. Bao nhiêu mực đã chảy để bàn vào tán ra về nụ cười – “hình như là” nụ cười – của La Joconde. Đẹp, thì thật ra, người mẫu cũng đâu có phải là bậc giai nhân tuyệt sắc. Còn vì sao nàng mỉm cười, nàng mỉm cười với ai, lúc nào, cái mỉm cười có ngụ ý gì, tựu trung chẳng phải là điều quan trọng. Quan trọng chăng là cách bố trí và nét cọ của da Vinci, nghệ thuật siêu đẳng của da Vinci. Năm thế kỷ trước đó, phóng bút vẽ vài thân trúc gầy với dăm ba chiếc lá xơ xác, Tô Đông Pha đã mở cánh cửa lớn đưa hội họa Trung Quốc vào con đường “văn – nhân – họa”, giã từ lối vẽ vốn đã lâu đời phụ thuộc vào phận sự trình diễn, kể chuyện. Rồi gần một ngàn năm sau họ Tô, chỉ với những mảng màu nâu, xám, vàng xỉn, những màu sắc u tối, nghèo nàn, khắc khổ, những đường ngang dọc, những nét chéo xiên có tính cách kỷ hà, Pablo Picasso đã cấu tạo nên được một ngôn ngữ tạo hình đọc đáo, diễn đạt được một ngôn ngữ tạo hình độc đáo , diễn đạt được một quan niệm mới mẻ về không gian và thực tại, làm cho cõi lòng người xem tranh xúc động như chưa từng trước đó.
…
Tôi không biết cô M.H. và các anh em cô có còn tại thế và được bình an không. Tôi mong rằng nếu tình cờ đọc phải những dòng này, các cô chú sẽ thông cảm cho chú bé ngày xưa nay cũng đã trở thành một ông già sáu mươi mấy tuổi. Những bức tranh của cô chú, nằm sau tấm kính lớn của gian hàng trên con đường đầy bóng phượng, con đường lớn nhất cố đô Huế, đã cho đứa bé của nửa thế kỷ về trước những giây phút thú vị thần tiên. Vâng, đồng nhất cái đẹp của đất nước quê hương với cái đẹp mỹ thuật, cái đẹp trong hội họa, là một lầm lẫn nghiêm trọng, tôi xin thưa. Tuy vậy, tôi vẫn trân trọng sự lầm lẫn ấy. Trân trọng vì thông cảm. “Huế, đẹp và thơ”, mấy ai cưỡng lại được! “Huế, đẹp và thơ”, biết bao người, trong mấy thế hệ qua, đã sung sướng thỏa thuê trong sự lầm lẫn ấy.
*
Sự lầm lẫn ấy vô tội. Xem ra, lại đáng yêu. Hay đang nói theo lối Huế, “dễ thương”! Sự lầm lẫn của thi sĩ Nam Trân, thời tiền chiến, mới là đáng trách.
Thi sĩ thấy chiếc “thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng”. Trên thuyền có “cô gái Kim Long yểu điệu chèo”. Thế là thi sĩ vội vàng “xuống thuyền”. Và biện bạch “rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo”. Mấy câu thơ vô duyên!
Và cũng vô tội. Đáng tội chăng là ông Nam Trân tự cho mình là Thơ (vì ông là thi sĩ). Đáng tội chăng là theo ông, cô gái Đẹp chèo thuyền là Đẹp, và Thơ thấy Đẹp ắt “phải tìm theo”. Những ý tưởng ngô nghê, liều lĩnh. Thi sĩ Nam Trân chạy theo cô gái Kim Long xinh đẹp (Ca dao: Kim Long mấy ả mỹ miều / Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi), được, mặc ông, ông cứ việc, chúc ông may mắn. Cớ gì ông phải ví von rằng ông “tìm theo” cô gái yểu điệu như thể Thơ “tìm theo” Đẹp?
Thi sĩ Nam Trân thuộc về một thuở xa xưa. Gần gũi chúng ta hơn có ông Võ Phiến. Một nhà văn lớn: tài hoa, sâu sắc, kiên trì. Trong cuốn Sống và Viết (Văn Mới, Los Angeles, một996) xuất bản gần đây của ông có bài tạp luận Cái Văn Cái Vẽ (tr.79). Tôi khoái cái nhan đề của bài này. Ông Võ Phiến nói về chuyện văn (chương) và chuyện vẽ (họa). Ông gộp hai chuyện đó lại thành Cái Văn Cái Vẽ. Mới liếc qua, hay người đọc vô ý có thể tưởng lầm cái đề là Cái Văn Cái Vẻ (Vẻ với dấu hỏi). Văn Võ Phiến có nhiều nét đặc sắc, trong số đó có nét … tinh quái: tôi ngờ rằng tác giả cố tình “mập mờ” như vậy.
Cô Kiều đẹp là thế, ông viết, nhưng “mình có vài ba chỗ yếu: thích má lúm đồng tiền; hai bên má Kiều có được đồng tiền nào chăng? Thích mắt gái một mí, có đuôi (…) cô Kiều (…) có thế chăng? v.v…”. “Tả người tả cảnh như Nguyễn Du là nhất” vậy mà cụ chỉ cho biết rằng Kiều có “mắt như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân, má đỏ hơn hoa, tóc xanh hơn liễu, v.v… Cái gì cũng mơ mơ, hồ hồ”. Nói chơi chơi, ông Võ Phiến làm sáng tỏ ý niệm căn bản về cái đẹp. Thứ nhất, câu thơ của Nguyễn Du đẹp không phải nhờ ở cái đẹp của đề tài. Không đẹp vì núi mùa xuân hay nước mùa thu đẹp. Và nhất định không đẹp vì … cô Kiều đẹp. Thứ hai, Kiều đẹp như vậy đó, chắc gì chàng trai nào cũng mê, cũng thích. Anh đàn ông có thể mê cái má lúm đồng tiền hơn, hay thích con mắt một mí có đuôi hơn. Nghĩa là trong sự yêu thích mê say ở thế giới con người, “bá nhân bá bao tử”! Yêu thích một câu thơ dở có thể là một cái “tội”. Huống hồ yêu con mắt một mí có đuôi hơn yêu con mắt như “nước mùa thu”, yêu cái má lúm đồng tiền hơn yêu đôi mày như “núi mùa xuân”. Cụ Nguyễn Du biết thế cho nên cụ lững lơ, cụ chỉ tả Kiều “như vầy, như vầy” cụ để mặc cho ta lựa chọn, cụ để mặc cho ta tưởng tượng. Và vì thế mới có tranh minnh họa Kiều. Thi sĩ là người thì họa sĩ cũng là người. Họa sĩ A vẽ Kiều của họa sĩ A. Họa sĩ B vẽ Kiều của họa sĩ B. Không ai vẽ Kiều với “làn thu thủy, nét xuân sơn” cả, bởi vì Kiều của các họa sĩ (nghĩa là Kiều thấy được với con mắt) không còn là Kiều của Nguyễn Du nữa. Kiều của các họa sĩ là Kiều của họ, quần chúng đọc sách xem tranh thích hay không thích, khen hay chê, tùy. Tranh minh hoạ là thế, chứ không phải như ông Võ Phiến tưởng: cái tả của cụ (nguyễn Du) (cũng như của mọi nhà văn nhà thơ) không thỏa mãn được một số đòi hỏi. Các họa sĩ biết chỗ ấy. Họ muốn tiếp tay”. Oan cho các họa sĩ quá. Họ đâu có vô công rỗi nghề đến cái mức vác cọ đi “tiếp tay” như thế.
Ông Võ Phiến lại viết: “Người viết vẽ bằng lời, vẽ một chân dung trên giấy thành muôn vạn bản chân dung trong trí người đọc. Người họa sĩ (cũng là một độc giả) đem cái chân dung thành hình trong trí mình đặt lên khung vải, như thế là chỉ đưa ra một bản trong muôn bản, là làm rõ ra nhưng nghèo đi cái bản vẽ bằng lời”. Quả có vậy. Tuy nhiên, ở đây có đôi điều mù mờ cần được “minh họa”. Dựa lời thì dễ mất ý, chúng ta đều biết.
Hội họa Đông Tây, cổ kim đều trải qua thời kỳ mang tính cách “minh họa”, thời kỳ sự phân biệt giữa nhà minh họa và nhà họa sĩ còn hết sức lấn cấn. Nói chung chung, nhà minh họa lệ thuộc vào đề tài, họa sĩ được tự do, độc lập hơn. Cũng nói chung chung, nhà họa sĩ được “coi trọng” hơn vì tác phẩm của họ được coi như sáng tạo hơn, thâm thúy hơn. Thực tế không giản dị như vậy. Sự đánh giá, thực ra, nằm ở trình độ nghệ thuật chứ không phải ở lãnh vực nghề nghiệp. Có những họa phẩm có tính chất minh họa nhưng vì trình độ nghệ thuật vượt bậc cho nên khía cạnh minh họa được quên đi và giá trị sáng tạo được đề cao. Ngược lại, có những họa sĩ vẽ những tranh gọi là sáng tạo, nhưng vì trình độ nghệ thuật thấp kém nên tác phẩm lại bị xem như những bước minh họa tầm thường.
“Người họa” của ông Võ Phiến “đem cái chân dung thành hình trong trí mình đặt lên khung vải” bị ông chê là “làm rõ ra nhưng nghèo đi cái bản vẽ bằng lời”. Bị chê là đáng kiếp. Bởi vì chỉ có “Người họa” xoàng mới lẫn thẩn dùng đến cái “chân dung thành hình trong trí”. Chỉ có “người họa” tồi mới làm công việc sao chép đó. Lịch sử Đông Tây không hiếm những tác phẩm, tuy có tính minh họa (một câu chuyện, một tuồng tích, hay một bản văn, bài thơ) nhưng vì trình độ nghệ thuật cao nên đã được khắc sâu vào tâm trí của bao nhiêu thế hệ khác thưởng ngoạn.
Đó là chuyện của thế kỷ mười chín trở về trước. Những thập niên đầu của thế kỷ XX chúng ta, hội họa từ bỏ hẳn công việc, chẳng những minh họa mà còn diễn đạt thực tại của thế giới bên ngoài: thời đại của hội họa trừu tượng. Trước đó, hội họa chẳng bao giờ phí công “dùng cọ dịch chữ ra màu, dịch lời ra nét” như ông Võ Phiến đã viết trong C ái Văn Cái Vẽ. Bây giờ, hội họa lại càng tự túc, tự mãn hơn, hỗn hào với cả Tạo hoá: Hội họa tạo nên thực tại của một thế giới khác.
Ông Võ Phiến kể lại giai thoại nhà văn Gustave Flaubert, tác giả Madame Bovary, khi được nhà xuất bản Charpentier đề nghị mời người minh họa cho sách ông, đã từ chối thẳng tay. Chẳng những từ chối, còn xì nẹc thậm tệ. Ông Võ Phiến than: “Ông (Flaubert) tuyên bố một nguyên tắc: Minh họa là phản văn chương. Khiếp, Flaubert hung dữ quá.”
Chúng ta đều biết Flaubert là một người cầm bút rất khó tính, đối với cả chính mình. Điều đó, cả nước Pháp văn học lấy làm hãnh diện. Tuy nhiên, có điều đáng tiếc cho Flaubert. Nhà văn lớm đã không được cơ hội gặp một nhà minh hoạ tài ba. Như nhà thơ St Jonh Perse đã gặp họa sĩ Georges Braque. Khi ấn hành tập Oiseaux (Birds) song ngữ của thi hào này, nhà Bolligen đã mời Braque thực hiện cho mấy thủ ấn họa tuyệt vời. Cái vẽ của Braque không làm “sáng tỏ” gì lời thơ của St Jonh Perse. Ở đây cái vẽ không phục cái văn. Cái vẽ không làm đầy tớ cái văn. Cái văn cái vẽ làm bạn tri kỷ, đồng hành. Cái văn cái vẽ ôm ấp nhau cùng trong một bìa sách. Và kẻ hưởng lợi là không một ai khác ngoài chúng ta.
*
Võ Phiến là một văn tài thượng hạng. Nguyễn Hưng Quốc đừng tưởng chỉ có mình ông mới “mê giọng văn Võ Phiến, ngôn ngữ Võ Phiến, trước khi chú ý đến những gì Võ Phiến nói”! (Nguyễn Hưng Quốc, Võ Phiến, Văn Nghệ, một996, tr.32). Bản thân tôi, nhân viết bài này, đọc lại cuốn Sống Và Viết, đặc biệt là cái văn cái vẽ, mới nhận ra rằng đàn anh cầm bút của mình đã … cả vú lấp miệng em! Thật ra, anh Võ Phiến có nói gì oan ức cho người vẽ thì người vẽ cũng hoan hỉ chấp nhận thôi. Viết hay như ông, viết gì cũng được người đọc thích thú, huống hồ ông chỉ “nghĩ bâng quơ đôi điều là vì lo lắng cho cái văn. Nghệ thuật bằng ngôn ngữ bằng chữ viết là đứa em út trong đại gia đình nghệ thuật (…) Ấy vậy mà gần đây nó bị các nghệ thuật bằng âm thanh và hình sắc lấn át thấy rõ. Trên truyền thanh truyền hình, hàng ngày cái hình cái tiếng nó lấn cái chữ, lấn chết bỏ. Đứa em út trong gia đình bị uy hiếp tơi bời, đáng tiếc quá”
…
Tôi nhỏ hơn ông Võ Phiến đến gần chục tuổi. Vậy mà loay hoay cũng đã bốn mươi năm cầm cọ rồi. Về già, như tôi đã nói ở trên, người ta mới hỏi một câu cắc cớ như hội họa là cái gì… tôi đoán chừng cũng có lúc ông Võ Phiến đã tự hỏi “văn chương là cái gì”. Vâng, hội họa là nghệ thuật của con mắt, nghệ thuật bằng hình sắc, cũng như văn chương là nghệ thuật bằng ngôn ngữ, bằng chữ viết. Chúng ta đều biết như vậy. Tuy nhiên, phải chăng đến một lúc nào đó trong đời chúng ta không còn coi sự khác biệt về phương tiện là quan trọng nữa. Quan trọng chăng là lẽ huyền bí của đất trời. Quan trọng chăng là sự kỳ diệu của niềm xúc cảm, là nét ẩn mật của nổi xôn xao mà nghệ thuật cống hiến cho con người. Kiếp nhân sinh lắm ê chề, chỉ vì nhờ có nghệ thuật mà cuộc đời vẫn huê dạng, mà cuộc sống càng gấm hoa. Nhà mỹ thuật học người Anh, Bernard Berenson, thuộc vào hạng sư tổ: ông thường hà tiện chữ nghĩa lắm. Vậy mà ông có lần huênh hoang rằng không có nghệ thuật thì thế giới này chỉ là rừng rú hoang dã thôi.
Ông Võ Phiến viết “nghệ thuật bằng âm thanh và hình sắc”. Tôi không muốn giành lời của các nghệ sĩ của âm thanh. Tôi chỉ khẳng định rằng hội họa, nghệ thuật bằng hình sắc, chẳng những không bao giờ “lấn át” nghệ thuật bằng ngôn ngữ, bằng chữ viết mà chính nó còn bị “cái hình” trên truyền hình, trên sách báo “lấn chết bỏ”. Tuy có chen có lấn đó nhưng giữa “cái hình” đó và hội họa có một cách biệt nghìn trùng. Đó cũng là cái cách biệt của những lời ngon ngọt rêu rao bán bột giặt, thuốc nhuận trường, nước súc miệng, ống xịt chống mồ hôi, giữa thú ngôn ngữ đó trên truyền hình, trên sách báo, và câu văn tiếng nói của Võ Phiến.
1997
15:45 Posted in D. Bài mỹ thuật-thu nhặt | Permalink | Comments (0) | Email this | Tags: vo dinh
03.06.2009
CHIA BUỒN

Tên thật: Võ Đình Mai
Pháp danh: Nguyên Chân
Đã từ trần lúc 6 giờ 20 chiều ngày 31 tháng 5 năm 2009
(nhằm ngày 8 tháng 5 năm Kỷ Sửu)
Tại tư gia, West Palm Beach, Florida
Hưởng thọ 76 tuổi
xin thành kính chia buồn cùng bà quả phụ Võ Đình Mai, khuê danh Trần thị Lai Hồng, và tang quyến
và cầu chúc linh hồn nhà văn/họa sĩ VÕ ĐÌNH tiêu diêu nơi miền cực lạc.
Nguyên Hưng
02:10 Posted in A. Bài mới: Nhận định-Phê bình | Permalink | Comments (0) | Email this | Tags: vo dinh

